Lịch sử Trung Hoa đã trải qua 4000 năm, ít nhất, theo những nhà làm phim Nhật Bản quan niệm. Suốt quãng thời gian đó, bao nhiêu biến cố, thăng trầm đã xảy ra trên đất Trung Hoa, từ chính trị, văn hóa đến kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, cái khiến người ngoài kính phục và cũng nể sợ chính là lối suy nghĩ thâm sau và tầng sâu triết lý trong những học thuyết ra đời khoảng 2000 năm trước, những học thuyết nở rộ vào thời Xuân Thu-Chiến Quốc mà đến nay vẫn chưa ai dám khẳng định mình hiểu hoàn toàn về chúng. Trong số đó, Nho giáo là thứ học thuyết ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, không chỉ với con người Trung Quốc mà ghi dấu ấn lên cả những quốc gia láng giềng. Học giả Will Durant từng nhận định “Từ sự khởi lập của nhà Hán tới sự suy tàn của triều Thanh trong 2000 năm, học thuyết Nho giáo đã tạo nên khuôn mẫu và chỉ huy tinh thần dân tộc Trung Hoa. Có thể nói, lịch sử Trung Hoa được viết nên từ những ảnh hưởng đó.” Nhận định này chính là cách một người phương Tây nhìn nhận và đánh giá đất nước và con người Trung Hoa, tức là từ bên ngoài vùng trời Hoa Hạ.

Ý đầu tiên Will Durant đề cập tới là thời gian ảnh hưởng trên phương diện chính trị của Nho giáo. “Từ sự khởi lập của nhà Hán tới sự suy tàn của triều Thanh”, tức là trải từ thời Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa tranh bá với Hạng Vũ cho tới ngày Cách mạng Tân Hợi nổ ra. Thời kì phong kiến trên 2000 năm đã tạo một dấu ấn không thể phai mờ. Khi Tần Thủy Hoàng qua đời và sau đó nhà Tần sụp đổ, không một tôn giáo nào, một thứ tâm linh nào có thể cứu vớt được sự rối ren trong cả nền chính trị lẫn xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Điều đó có nghĩa là, cần có một thứ học thuyết “bao trùm thiên hạ”, tạo sự ổn định cho toàn xã hội và đưa đất nước vào quy củ. Và lịch sử đã gọi tên Nho giáo, bởi từ thời kì Tây Chu, bách gia chư tử ai ai chẳng muốn tạo ảnh hưởng của mình lên toàn bộ nhân dân. Người đặt cơ sở đầu tiên cho Nho gia là Khổng Tử, sau này Mạnh Tử thời Chiến Quốc và Đổng Trọng Thư thời Tây Hán đã phát triển học thuyết lên mức hoàn chỉnh. Đường lối trị nước theo Nho giáo của Khổng Tử là dựa vào đạo đức, hay “đức trị”. Chính vì Nho giáo đề cao đạo đức, lại được bổ sung, cải thiện qua năm tháng nên dân tộc Trung Hoa coi trọng đạo đức trên hết. Không chỉ có vậy, tam cương-ngũ thường ăn sâu vào tâm thức của họ, tạo nên màu sắc cá biệt mà ta có thể gọi là “thuộc tính Trung Hoa”. Sự khuôn thước mà Nho giáo tạo nên chính là thứ chi phối mọi mặt đời sống nói chung và chính trị nói riêng.
“Lịch sử Trung Hoa được viết nên từ những ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo”, đúng như Will nói. Hãy nhìn những lần thay bậc đổi ngôi của các triều đại Trung Hoa. Lấy ví dụ, sau loạn “Thập thường thị” của nhà Đông Hán, chẳng phải tam quốc phân tranh đều có lí lẽ riêng? Tào Tháo tuy át quyền vua nhưng vẫn giữ thần tử, mang danh Thừa tướng chứ không diệt Hiến đế; Lưu Bị khởi nghĩa với danh “hoàng thúc” để giành lại quyền lực về tay họ Lưu; Tôn Kiên dựng một cõi Giang Đông cũng vì suy nghĩ ổn định nhằm nhất thống Trung Nguyên. Cuối cùng, hợp rồi lại tan, tan rồi lại hợp, nhà Tư Mã lên nắm quyền, lập ra nhà Tấn. Nhưng cho dù là hợp hay tan thì tư tưởng thiên tử-chư hầu vẫn là xương sống. Ngay cả trong thời Tam quốc, nhà Ngụy vẫn mang một ham muốn bắt Thục-Ngô xưng là chư hầu để vào chầu thiên tử. Tư tưởng đó cũng chi phối đến quan hệ ngoại giao của Trung Hoa với các quốc gia láng giềng hay chịu ảnh hưởng. Ta thử lấy Nhật Bản làm ví dụ. Trong con mắt của Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có vị trí “thiên triều” như những nước xung quanh luôn bằng mặt không bằng lòng mà chấp nhận. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kì ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu “Thư này là thư thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn”. Người Trung Quốc, đặc biệt là triều đình nhà Tùy, dĩ nhiên là tức giận, nhưng ảnh hưởng không đủ mạnh nên tuyệt đối không làm Nhật quy hàng. Sự suy tàn của phong kiến Trung Hoa là do đâu? Có phải vì sự bất hợp lí trong học thuyết của Nho gia? Khi mà người Trung Hoa phải gỡ bỏ “bế quan tỏa cảng” không chỉ thương nghiệp mà còn cả về tư duy?
Tôi cho rằng tinh thần dân tộc của người Trung Hoa là sự hòa quyện của tất cả tinh hoa từ mọi học thuyết mà hạt nhân là Nho giáo. Nhìn sâu vào chiều dài lịch sử của Trung Hoa, nhìn sâu vào tâm tư của một kẻ là “nước lớn”, dường như Hoa Hạ có phần nào già cỗi và cô độc. Có thể dùng một câu để nhận xét rằng: Trung Hoa nếu đạt tới cảnh giới vô ngã thì thân đã nhuộm sắc đỏ. Vô ngã là nơi mọi sự chấp thủ đều được buông bỏ, mọi phiền não nhiễm ô đều được rửa sạch, nhưng một quốc gia mang trong mình quá nhiều những khuôn phép, những lễ nghĩa, những toan tính, dẫu mang nặng tinh thần dân tộc thì cũng chẳng bao giờ có được sự an lạc trong tâm hồn như vậy. Tinh thần của người Trung Hoa còn chứa đựng sự mâu thuẫn bởi “tam giáo đồng nguyên”. Huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, đó có phải là đạo đức mà Nho giáo hướng đến hay không? Nhưng ngay trong lời bài hát “Người Trung Quốc” của Andy Lau cũng có câu kết: Để cho thiên hạ thấy rằng chúng ta là người Trung Hoa. Sự chặt chẽ trong tổ chức chính trị, sự phân cấp và quy tắc trong tổ chức xã hội, những quy chuẩn đạo đức ấn định đẳng cấp con người, tất cả tạo nên một chữ “Ngạo” cho dân tộc này. Nhà văn Vương Mông từng nói rằng: “Trung Quốc vĩ đại, sâu thẳm, đau khổ thật là sâu không thấy đáy. Rất nhiều kẻ đã huơ chân múa tay bình luận, kỳ thực họ vẫn chẳng động tới được một góc Trung Hoa”. Từ nhà Hán cho đến nhà Thanh, thực sự thời phong kiến đã đến lúc cáo chung mà rời vở kịch lịch sử đã giao cho nhưng những ảnh hưởng của Nho giáo đem lại, một lần nữa lại viết nên lịch sử. Mạnh Tử từng nói “dùng sức mạnh để bắt người ta phục thì không phải là người phục trong lòng mà vì sức không đủ; lấy đức để làm cho người ta phục thì trong lòng người ta vui và thực sự phục vậy”. “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, quý nhất là dân, sau là xã tắc, thứ yếu là người lãnh đạo, vì thế khi Nhật vào thảm sát dân Trung Quốc, hai đảng đối đầu nhau là Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông và Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch mới bắt tay nhau chống Nhật, vì câu nói “Chúng ta đều là người Trung Hoa, người Trung Hoa thì không đánh giết lẫn nhau”. Một thời kì đau thương ngắn ngủi trong thế kỉ XX của Trung Quốc là “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” đã minh chứng cho lời của Mạnh Tử, “chưa từng thấy người có nhân mà lại bỏ rơi người thân”. Vậy mà công cuộc cách mạng đó lại sinh ra con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, anh em họ hàng hại nhau. Sau khi Văn Cách được dừng lại, người Trung Hoa, với cảm thức về ngũ thường vốn có, với niềm tự hào không gì sánh nổi với văn hóa dân tộc, chắc hẳn họ sẽ mang nỗi đau khó tránh khi nghĩ về những ngày tháng ấy.

Khó có thể nói cho đến cùng những ảnh hưởng to lớn mà Nho giáo đã tạo ra đối với người Trung Hoa và cách họ viết nên lịch sử. Chúng ta cũng có quyền mong chờ tiếp sau, với tinh thần dân tộc ấy, họ sẽ đứng trên trường quốc tế với thái độ như thế nào trong tương lai không xa.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here