Onyomi là cách đọc kanji theo người Trung Quốc. Tuy vậy, sự thay đổi triều đại của Trung Quốc cũng ảnh hưởng ít nhiều tới cách đọc kanji ở Nhật. Những âm đầu tiên xuất hiện là âm Ngô, sau đó tới âm Hán và âm Đường-Tống.

Cùng tìm hiểu sự khác biệt của 3 cách đọc kanji tiếng Nhật trong bài viết này nhé!

Âm Ngô

Âm Ngô là gì?

Tiếng Ngô là các phương ngữ phía Nam Trung Quốc tức vùng hạ lưu sông Dương Tử (Trường Giang). Âm đọc kanji theo tiếng Ngô được truyền vào Nhật Bản qua triều đại Baekje của Triều Tiên (một triều đại có giao lưu với nhà Ngô trong thời kì Lục triều). Người ta cho rằng âm Ngô du nhập vào Nhật Bản vào trước thế kỷ thứ 7, thường được dùng để đọc kinh điển Phật giáo. Các khái niệm trong Phật giáo ngày nay chủ yếu được đọc theo âm Ngô.

Đặc điểm của âm Ngô

  • Phân biệt phụ âm trong và phụ âm đục (tức phụ âm vô thanh và hữu thanh): 刀=タウ,陶=ダウ (với âm Hán thì cả hai đều là タウ)
  • Âm mũi /m/ và /n/ đọc theo hàng マ và ナ tương ứng: 馬=マ,男=ナン (âm Hán sẽ đọc là バ và ダン)

Một vài ví dụ âm Ngô

老若男女(ろうにゃくなんにょ già trẻ gái trai)

建立(こんりゅう xây dựng các công trình thờ tự như đền chùa)

Âm Hán

Âm Hán là gì?

Trái ngược với tiếng Ngô, tiếng Hán là ngôn ngữ được sử dụng ở vùng Lạc Dương, Trường An (kinh đô nhà Đường, Tây An ngày nay), là phương ngữ phía Bắc Trung Quốc. Âm đọc kanji theo tiếng Hán được các sứ thần đến nhà Đường và các nhà sư du học truyền lại vào Nhật Bản vào đầu thời Heian (khoảng thế kỉ thứ 7~thế kỉ thứ 9). Vào thời Heian, nó được xác định là âm chính thức để nghiên cứu và giảng dạy nên còn được gọi là “âm chuẩn”.

Sự khác biệt chính so với âm Ngô

  • Sử dụng phụ âm vô thanh thay vì phân biệt vô thanh và hữu thanh: tiếng Ngô phân biệt 糟=ザウ〉,曹=サウ, trong khi ở âm Hán, tất cả đều là âm サウ
  • Âm /m/, /n/ trong tiếng Trung nếu đọc theo âm Hán sẽ trở thành âm thuộc hàng バ và ダ
  • Âm /-t/ trong tiếng Trung đọc theo âm Hán sẽ trở thành ツ: 質=シツ, theo âm Ngô sẽ là シチ.

Âm Đường (âm Đường-Tống)

Âm Đường hay âm Đường-Tống là gì?

Âm Đường-Tống là cách đọc kanji theo tiếng Trung Quốc từ thế kỉ 10 trở đi, dựa trên tiếng Trung thời Tống, Nguyên, được du nhập từ Trung Quốc sau khi âm Ngô và âm Hán đã có chỗ đứng vững chắc trong tiếng Nhật.

Nguồn gốc âm Đường-Tống của kanji tiếng Nhật

Âm Đường-Tống được truyền vào Nhật Bản qua rất nhiều thời kì và cách thức khác nhau.

  • Thời Heian (nhà Bắc Tống ở Trung Quốc): các thương nhân truyền vào
  • Thời Kamakura (nhà Nam Tống đến đầu thời nhà Nguyên): các thiền sư thuộc phái Lâm Tế (Rinzai) và Tào Động (Soto), chủ yếu là ngôn ngữ đến từ vùng Giang Nam và Chiết Giang
  • Đầu thời Edo (cuối thời Minh): thiền sư Ẩn Nguyên phái Hoàng Bách, ngôn ngữ vùng Nam Kinh
  • Thời Edo (nhà Thanh): các thông dịch viên thuộc quyền quản lí của chính quyền vùng Nagasaki, ngôn ngữ vùng Hàng Châu và Nam Kinh

Một số đặc điểm của âm Đường-Tống

  • Âm thuộc hàng タ trong âm Ngô hay Hán trở thành âm thuộc hàng サ: 茶(さ),知(し)
  • Âm thuộc hàng カ sẽ bỏ đi phụ âm /k/: 杏(あん),胡(う)
  • Trong một vài từ có nguyên âm ア sẽ trở thành オ: 乱(ろん),多(と)
  • Trong một vài từ nguyên âm オ sẽ trở thành ウ: 庫(く),蒲(ふ)
  • Trong một vài từ âm シ sẽ thành ス: 子(す),笥(す)
  • Trong một vài từ âm cuối ウ và イ sẽ trở thành ン: 行(あん),清(しん)

Một vài ví dụ âm Đường-Tống

Nếu một từ có cách đọc khó hình dung ra được thì khả năng cao đó là cách đọc theo âm Đường-Tống. Chỉ có một số chữ kanji có thể đọc được bằng âm Đường-Tống, vì vậy bạn nên ghi nhớ một số từ kanji này.

椅子(いす)

箪笥(たんす)

布団(ふとん)

暖簾(のれん)

西瓜(すいか)

行脚(あんぎゃ cuộc hành hương)

Tổng kết: cách phân biệt âm Ngô và âm Hán

Do sự đặc thù của âm Đường-Tống, chúng ta không cần chú trọng nhiều vào cách phân biệt âm này với hai âm còn lại. Với tiếng Nhật hiện đại, chủ yếu ta cần phân biệt cách đọc kanji theo âm Ngô và âm Hán, cụ thể:

  • Âm trong và âm đục (phụ âm vô thanh và hữu thanh)

Âm đục (hữu thanh) ở âm Ngô:大(だい)、極(ごく)

Âm trong (vô thanh) ở âm Hán:大(たい)、極(きょく)

  • Âm đầu thuộc hàng ナ và ザ

Hàng ナ ở âm Ngô:人(にん)

Hàng ザ ở âm Hán:人(じん)

  • Âm đầu thuộc hàng ナ và ダ

Hàng ナ ở âm Ngô:男(なん)

Hàng ダ ở âm Hán:男(だん)

  • Âm đầu thuộc hàng マ và バ

Hàng マ ở âm Ngô:美(み)

Hàng バ ở âm Hán:美(び)

  • Âm kết thúc là チ và ツ

チ ở âm Ngô:質(しち)、達(たち)

ツ ở âm Hán:質(しつ)、達(たつ)

***

Bài viết tham khảo:

https://www.hamasensei.com/onyomi/

https://kanjibunka.com/kanji-faq/old-faq/q0075/

Một vài suy nghĩ cá nhân

Sau khi biết về nguồn gốc các cách đọc của kanji trong tiếng Nhật, mình nghĩ bạn đọc có thể liên hệ với tiếng Việt ngày nay và thử tìm hiểu xem những từ mà chúng ta tưởng “thuần Việt” liệu có thật sự thuần Việt không, hay thực chất chúng có liên hệ với ngữ âm tiếng Ngô.

Một bài viết mà các bạn có thể tham khảo và tự mình đánh giá: https://truongthaidu.wordpress.com/2019/10/20/goc-han-duong-man-cua-tieng-viet/


Tham khảo thêm một số trang web về tiếng Nhật

Đăng kí học tiếng Nhật: https://forms.gle/X44hZPKAoJUvUYua7

Behance của mình: https://www.behance.net/phanthuha62

Tra cứu các cách kết hợp từ trong tiếng Nhật (cơ sở dữ liệu của Viện nghiên cứu Quốc ngữ Quốc gia NB): http://nlb.ninjal.ac.jp/

Tổng hợp ngữ pháp tiếng Nhật: https://phanthuha.me/category/tieng-nhat/

Đọc thêm về Jujutsu Kaisen: https://phanthuha.me/category/jujutsu-kaisen/

Hà Phan

Một con mèo thích đọc chuyện chính trị.

Trả lời