Quan Vũ, nay được tôn thờ với tên gọi Quan Thánh Đế Quân hay Quan Đế, mang những đặc điểm của một vị thần Đạo giáo, có vị trí rất cao và được thờ phụng rộng rãi trong xã hội Trung Quốc đương đại.
Quá trình hình thành niềm tin vào Quan Đế diễn ra như thế nào?
Trong phần đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu hình tượng Quan Vũ vào thời kì ngay sau Tam quốc – Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều.
Tục thờ Quan Đế trong xã hội hiện đại
Đạo giáo là một tôn giáo đa thần theo đuổi sự cứu rỗi thế tục thông qua “Phúc” (con cháu), “Lộc” (giàu có) và “Thọ” (sống lâu), cũng là một tín ngưỡng dân gian được nhiều người tin theo trong xã hội Trung Quốc hiện đại. Tại Trung Quốc đại lục, Đạo giáo từng suy tàn nhưng hiện đang trong quá trình phục hưng.
Tại Đài Loan, nơi cả Đạo giáo và Phật giáo đều phổ biến, niềm tin vào Quan Thánh Đế Quân cũng rất sâu sắc. Cách ga Đài Bắc hai trạm về phía tây là ga Long Sơn Tự, nơi có chùa Long Sơn thờ Quan Âm và Ma Tổ (Thiên Hậu Thánh Mẫu). Tại điện thờ phía sau cùng của chùa, người ta thờ vị Quan Đế có mặt đỏ râu dài. Đạo giáo là một tôn giáo đa thần, không chỉ thờ các vị thần của Đạo giáo mà còn bao gồm nhiều vị thần từ các tôn giáo khác. Trong số các vị thần được thờ phụng trong đền miếu, Quan Đế luôn ở vị trí cao. Tất nhiên, cũng có nhiều miếu Quan Đế với Quan Đế là vị thần chủ đạo. Một trong những miếu Quan Đế nhộn nhịp nhất là Hành Thiên Cung ở Đài Loan, ở đây luôn tấp nập người qua lại, có thể tìm thấy nhiều thầy bói ở các đường hầm gần đó.

Trong Nhất Quán Đạo [chủ trương kết hợp các giáo lý của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, hợp nhất chúng thành một tôn giáo duy nhất], một giáo phái Đạo giáo bí truyền tiếp thu dòng truyền thừa Vô Sinh Lão Mẫu – vị thần sáng tạo dẫn dắt con người vào thế giới lý tưởng “Chân Không Gia Hương”, Quan Vũ lên ngôi vị Ngọc Hoàng Thượng Đế đời thứ 18. Theo giáo lí này, tại Đài Loan vào những năm 1960, nhiều miếu Ngọc Hoàng đã được đổi thành miếu Quan Đế. Là vị thần tối cao trong Đạo giáo, vị trí của Ngọc Hoàng tương đương với Hạo Thiên Thượng Đế trong Nho giáo. Phía Nho giáo đã chỉ trích mạnh mẽ về việc Quan Vũ là Ngọc Hoàng Thượng Đế, do vậy gần đây còn rất ít người coi Quan Vũ là vị thần tối cao trong Đạo giáo. Tuy nhiên, Quan Thánh Đế Quân vẫn là một vị thần được tôn thờ rộng rãi trong xã hội Trung Quốc đương đại. Vậy, niềm tin này bắt đầu từ khi nào?
Hình tượng Quan Vũ thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều
Quan Vũ trong Đạo giáo thời Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều
Trong thời kì Lưỡng Tấn Nam Bắc triều (280-589 sau Công nguyên), sau thời Tam quốc mà Quan Vũ sinh sống, ảnh hưởng của cả Đạo giáo và Phật giáo đều lan rộng. Trương Giác, người khởi xướng cuộc nổi dậy Khăn Vàng vào cuối thời Đông Hán, đã sáng lập ra Thái Bình Đạo, trong khi Trương Lỗ, người đầu hàng Tào Tháo, đã củng cố ảnh hưởng của Ngũ Đấu Mễ Đạo. Thiên Sư Đạo, bắt nguồn từ Ngũ Đấu Mễ Đạo, nhanh chóng phát triển thành Đạo giáo, trở thành một trong “Tam Giáo” cùng với Nho giáo và Phật giáo.
Vào thời Bắc triều, Khấu Khiêm Chi thuộc Bắc Ngụy (386-534) đã phát triển Thiên Sư Đạo và sáng lập Tân Thiên Sư Đạo, cống hiến hết mình để đưa Đạo giáo trở thành quốc giáo. Ở phía Nam, vào thời Tây Tấn và Đông Tấn (317-420), Cát Hồng (ông nội là Cát Hệ từng phục vụ nhà Tôn Ngô) đã tóm tắt các bí thuật trường sinh bất lão từ cuốn sách Bão Phác Tử. Dựa vào đó, phái Thượng Thanh của Đạo giáo, vốn nhấn mạnh vào việc tu tập đạo đức và tụng niệm kinh điển, đã phát triển mạnh mẽ.

Người vĩ đại nhất có công hệ thống lại học thuyết của phái Thượng Thanh là Đào Hoằng Cảnh, người Lưu Tống, tác giả của Chân Cáo. Ông và các đệ tử của mình đã vào Mao Sơn – một thánh địa tu tiên – sáng lập phái Mao Sơn, kế thừa phái Thượng Thanh. Trong Chân Linh Vị Nghiệp Đồ của Đào Hoằng Cảnh, hơn 800 vị thần Đạo giáo, đứng đầu là Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, được sắp xếp theo hình kim tự tháp. Hàng thứ bảy dưới cùng đại diện cho những nhân vật có thành tựu ở trần gian, sau khi chết trở thành quan lại ở Minh giới. Trong số đó có những nhân vật thời Tam Quốc đứng đầu là Lưu Bị và Tào Tháo, ngoài ra có Tuân Úc, Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý và Từ Thứ nhưng lại không có Quan Vũ và Trương Phi vì họ không phải là văn sĩ (*). Như vậy, vào thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, Quan Vũ vẫn chưa phải là đối tượng được dân chúng thờ cúng.

Quan Vũ trong “Tấn thư”
Quan Vũ không được nhắc đến trong Chân Linh Vị Nghiệp Đồ không có nghĩa Quan Vũ không được ngưỡng mộ vào thời kì này. Ví dụ, Tấn thư – Lưu Hà truyện chép rằng Lưu Hà, một người vô cùng dũng cảm, được so sánh với Quan Vũ và Trương Phi:
“Tính tình quyết đoán kiên định, giỏi bắn cung cưỡi ngựa, lại hào hiệp gan dạ. Thiên hạ đại loạn, Lưu Hà trở thành thủ lĩnh một làng. Mỗi khi tấn công giặc cướp đều dẫn dắt những tráng sĩ của mình ra trận. Người dân Ký Châu ví ông như Trương Phi và Quan Vũ.”
Tấn thư – Lưu Hà truyện
Hơn nữa, “Nghĩa” của Quan Vũ khi quay về bên Lưu Bị đã trở thành một chuẩn mực ứng xử. Phần ghi chép về Mộ Dung Đức trong Tấn thư chép rằng Triệu Tư, người được thuyết phục đầu hàng, đã viện dẫn tấm gương chính nghĩa của Quan Vũ làm lí do để không làm phản:
“Tư nói: Xưa Quan Vũ được Tào công hết mực trọng vọng vẫn không quên ơn Tiên chủ. Tư tôi chỉ là một người thấp hèn chịu tội nhưng vẫn biết ơn nước. Chó ngựa còn có lòng biết ơn, huống chi con người! Tôi xin được giữ chức cũ, theo hầu cạnh hoàng thượng để thể hiện tiết tháo bé mọn của mình.”
Tấn thư – Mộ Dung Đức
Quan Vũ có phải một “Kiếm thần”?
Vị tướng kiệt xuất mang tên Quan Vũ đã trở thành huyền thoại. Cổ kim đao kiếm lục của Đào Hoằng Cảnh cũng kể truyền thuyết về kiếm của Quan Vũ:
“Quan Vũ được Tiên chủ trọng dụng, liều mình tự lấy sắt ở Đô Sơn rèn hai thanh kiếm, khắc lên đó chữ “Vạn Nhân”. Bại trận, Quan Vũ thương tiếc những thanh kiếm đó, ném chúng xuống nước.”
Cổ kim đao kiếm lục
Dòng chữ “Vạn Nhân” khắc trên thanh kiếm bắt nguồn từ miêu tả của Trần Thọ về Quan Vũ và Trương Phi là “vạn nhân địch” trong Tam Quốc chí. Tình tiết anh hùng trả lại kiếm quý cho thần Nước trước khi chết cũng rất đáng chú ý. Trong số những câu chuyện đem trả kiếm cho thần Nước trên thế giới, nổi tiếng nhất là câu chuyện về vua Arthur. Vua Arthur, một người Celt bản địa, đã có được thanh kiếm thần thánh Excalibur, do đó ông trở thành một “Kiếm thần”. Trước khi mất, vua Arthur đã ném thanh kiếm xuống hồ Avalon. “Kiếm thần” chính là anh hùng sở hữu sức mạnh siêu nhiên khi dùng kiếm nhưng phải đối mặt với cái chết khi mất nó. Trong tiểu thuyết Trung Quốc, Tôn Ngộ Không có thể được coi là một “Kiếm thần” điển hình khi có được cây gậy Như Ý.
Vào thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, mặc dù truyền thuyết về Quan Vũ như một “Kiếm thần” đã hình thành, ông vẫn chưa được chính thức tôn thờ như một vị thần. Trong cuốn Cổ kim đao kiếm lục cũng có đoạn viết về Gia Cát Lượng như sau:
“Gia Cát Lượng, sau khi dẹp yên Kiềm Trung (**), đi ngang qua đền Thanh Thạch, liền lấy kiếm đâm vào núi, sau đó không rút kiếm ra mà rời đi, ai nấy đều lấy làm lạ.”
Cổ kim đao kiếm lục
Như vậy, Gia Cát Lượng cũng được coi là một “Kiếm thần” trong thời kì này, có thể thấy Quan Vũ không phải nhân vật duy nhất được đối xử đặc biệt.

Nhắc tới Quan Vũ với tư cách “Kiếm thần”, ta thử xem lại tình tiết trong Tam quốc diễn nghĩa. Diễn nghĩa kể về nguồn gốc của Thanh Long Yển Nguyệt Đao của Quan Vũ (trên khắc dòng chữ “Lãnh Diễm Cứ”) rằng ông đã rèn nó bằng tiền kiếm được từ một thương gia buôn ngựa trong thời gian gây dựng quân đội. Tuy nhiên, trong Diễn nghĩa lại không có cảnh Quan Vũ trả lại Thanh Long Yển Nguyệt Đao cho thần Nước trước khi mất. Ở điểm này, Quan Vũ về cơ bản đã mất đi đặc điểm của một “Kiếm thần”.
Tuy nhiên, trong vở kịch thời Minh Lưu Quan Trương kết nghĩa vườn đào có cảnh Quan Vũ lấy được con dao từ dưới một tảng đá. Trương Phi khi đó là người bán thịt, đã dùng một tảng đá nặng đè lên con dao, tuyên bố: “Ai lấy được con dao này sẽ được thịt ngon miễn phí” rồi bỏ đi. Quan Vũ đến, dời tảng đá và lấy được con dao. Trong những câu chuyện Tam quốc phổ biến ngày nay, con dao không được nhắc đến mà thay vào đó, nó phát triển thành câu chuyện “Một rồng chia hai hổ”: Quan Vũ phân phát thịt trong giếng cho người nghèo, khi Trương Phi trở về hai người cãi nhau, Lưu Bị tình cờ đi ngang qua và cố gắng hòa giải. Có thể nói, câu chuyện lấy được con dao dưới tảng đá biến nhân vật thành “Kiếm thần” dường như khó hiểu đối với dân chúng, do đó tình tiết mới buộc phải sửa đổi.
Mặt khác, ấn bản thứ hai của Diễn nghĩa bản Gia Tĩnh không mô tả cụ thể cảnh Quan Vũ chết, mà thay vào đó sử dụng việc Quan Vũ trả lại thanh kiếm như một biểu tượng cho cái chết của ông. Trong khi Quan Vũ đang giao chiến với tướng Ngô là Mã Trung, một giọng nói đột nhiên vang lên từ trên trời: “Vân Trường ở hạ giới đã lâu rồi. Ngọc Hoàng ban chiếu: đừng tranh thắng thua với người phàm.” Quan Vũ bừng tỉnh, “bỏ kiếm ngựa, cha con hoá thành thần.” Thanh “Lãnh Diễm Cứ” của Quan Vũ, giống như gậy Như Ý của Tôn Ngộ Không, là thứ binh khí đưa Quan Vũ trở thành “Kiếm thần”. Vì vậy, Diễn nghĩa ghi rằng nó nặng 82 cân (49kg theo hệ thống đo lường thời Minh và Thanh, 18kg theo hệ thống đo lường thời Đông Hán).
Kì 2: Hình tượng Quan Vũ thời Đường
Chú thích của người dịch:
(*) Sự xuất hiện của Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý chưa được kiểm chứng, sách “Chân Linh Vị Nghiệp Đồ” tôi tìm thấy chưa xuất hiện hai cái tên này, chưa rõ tác giả dựa trên bản nào; tuy nhiên trong các tác phẩm khác của Đào Hoằng Cảnh như “Chân Cáo” hay “Cổ kim đao kiếm lục” nhắc khá nhiều tới Gia Cát Lượng, cũng có tin nói Tư Mã Ý được thờ do Đạo giáo thời Tấn phát triển. Ai có thông tin gì thêm xin chia sẻ ^^
(**) Cuộc bình định diễn ra vào năm Kiến Hưng thứ 3 (225), vùng đất này nay thuộc tỉnh Quý Châu.
Tham khảo thêm một số trang web về tiếng Nhật
Đăng kí học tiếng Nhật: https://forms.gle/X44hZPKAoJUvUYua7
Behance của mình: https://www.behance.net/phanthuha62
Tổng hợp ngữ pháp tiếng Nhật: https://phanthuha.me/category/tieng-nhat/
Đọc thêm về Jujutsu Kaisen: https://phanthuha.me/category/jujutsu-kaisen/
Đọc thêm về Tam quốc: https://phanthuha.me/category/tam-quoc/
