Bài 3 — Lễ Hội
町を歩いていると、たまにお祭りを見かけることがある。
日本では昔から米が重要な農産物であった。その農産物や、その他のこの世の中のすべてのことは、みな神の力によって決められると考えられていた。だから、昔から田植えの町には、米がたくさん取れることを神に祈ってお祭りを行ない、秋になって稲が実ると、神に感謝して秋祭りを行うことになっていたのである。しかし、現在ではどちらかというと、宗教的要素より観光的要素の大きいものも少なくない。
お祭りの日には、あちこちちょうちんが飾られ、子供たちは神社へ行って太鼓をたたく。またおみこしが出され、若い人たちが町じゅう村じゅうをかついで回る。暗くなると、大勢の人々が神社に集まる。神社のあたりはたいへんな人出で、人々は回りの人に押されたり足を踏まれたりする。子供たちはきれいな着物を着せられ、父母に手をひかれて神社へお参りに行く。鳥居をくぐると、小さな店がたくさん並んでいる。店にはおもちゃやお菓子などが並べられている。父母は子供にお菓子やおもちゃをねだられる。だから、お祭りになると、子供たちはどんなにうれしいかわからない。
Hễ mà bước xuống phố, thỉnh thoảng, có những lúc ta sẽ bắt gặp một lễ hội nào đó.
Ở Nhật Bản, từ ngày xưa, gạo là loại nông sản thiết yếu. Loại nông sản đó hay tất cả các loại nông sản khác trên cõi đời này, đều được con người cho rằng nó được sinh ra bởi quyền năng của các thần linh. Vì vậy, từ ngày xưa, vào những khi cấy lúa, người ta thường tổ chức một lễ hội cầu khấn ơn trên ban cho được mùa, đến khi bước vào mùa thu, cây lúa trổ bông, người ta lại tổ chức một lễ hội mùa thu để cảm tạ thần linh. Tuy nhiên, hiện nay, nói gì đi chăng nữa, không ít trường hợp lễ hội đó là một yếu tố mang tính thưởng lãm nhiều hơn là một yếu tố về tôn giáo.
Vào những ngày lễ hội, khắp nơi được trang trí đèn lồng, bọn trẻ con đi đến đền thờ Thần Đạo và thực hiện nghi thức đánh trống. Kiệu được mang ra, những người thanh niên sẽ khiêng kiệu đi vòng quanh khắp phố phường, khắp xóm làng. Khi trời tối, người người tập trung đông đúc ở đền thờ Thần Đạo. Ở khu vực đền thờ Thần Đạo nhiều người lại đi ra, mọi người bị những người xung quanh xô đẩy, dẫm đạp. Trẻ con được bố mẹ cho vận bộ Kimono xinh đẹp, và được dẫn đi viếng thăm đền thờ Thần Đạo. Khi đi qua khỏi cổng vào đền thờ, ta sẽ thấy rất nhiều quầy hàng nhỏ xếp thành dãy. Trong các quầy hàng có trưng bày những thứ như là đồ chơi, bánh kẹo. Các ông bố, bà mẹ thì sẽ bị con họ vòi vĩnh mua đồ chơi hay bánh kẹo đó. Do vậy mà mỗi khi mùa lễ hội đến, bọn trẻ con sẽ vui sướng biết dường nào.
-
田中 · Tanaka
もうそろそろ、お祭りの行列が来るころですよ。おしゃべりはやめて、見に行きませんか。
Moo sorosoro, omatsuri no gyooretsu ga kuru koro desu yo. Oshaberi ha yamete, mi ni ikimasen ka?
Sắp sửa tới giờ đoàn diễu hành lễ hội đến rồi đấy. Đừng tán ngẫu nữa, đi xem không?
-
李 · Ri
もちろん、行きますよ。お祭りを見るために来たんですから。
Mochiron, ikimasu yo. Omatsuri o miru tameni kitan desu kara.
Dĩ nhiên là đi rồi! Tôi đến đây để xem lễ hội mà!
-
田中 · Tanaka
お見せするほどりっぱなものではありませんがね。
Omise suru hodo rippana mono deha arimasen ga ne.
Cũng không có gì đặc sắc lắm để cho anh xem đâu nhỉ.
-
李 · Ri
いや、ぜひ、日本の祭りは見ていきたいと思います。
Iya, zehi, nihon no matsuri ha mite ikitai to omoimasu.
Không đâu, nhất định tôi muốn đi xem lễ hội Nhật Bản.
-
田中 · Tanaka
ほら、笛や鐘の音が聞こえて来たでしょう?やってきましたよ。たくさんの人がかついでいるものがあるでしょう?あれをおみこしと言います。
Hora, fue ya kane no oto ga kikoete kita deshoo? Yatte kimashita yo. Takusan no hito ga katsuide iru mono ga aru deshoo? Are wo omikoshi to iimasu.
Ơ kìa, anh có nghe được tiếng sáo hay tiếng chuông đang vọng đến không? Người ta bắt đầu tiến hành lễ hội rồi đó. Hình như có một thứ mà nhiều người đang khiêng. Người ta gọi cái đó là kiệu.
-
李 · Ri
ほほお、おみこしですか。
Hohoo, omikoshi desu ka?
Kìa kìa, là kiệu phải không?
-
田中 · Tanaka
そうです。小さいほうが子供のみこしで、あとからおとなのみこしも来ましたよ。
Soo desu. Chiisai hoo ga kodomo no mikoshi de, ato kara otona no mikoshi mo kimashita yo.
Là nó đó. Cái nhỏ hơn là kiệu trẻ con, đằng sau, kiệu người lớn cũng đang tiến đến rồi đó.
-
李 · Ri
何を叫んでいるのですか。
Nani wo sakende iru no desu ka?
Người ta đang reo hò cái gì vậy?
-
田中 · Tanaka
あれは「わっしょい、わっしょい」という掛け声を掛けているところです。
Are ha “wasshoi, wasshoi” to iu kakegoe wo kakete iru tokoro desu.
Người ta đang reo hò “dô ta, dô ta”.
-
李 · Ri
うしろのほうから来るのは「しし舞」ではないですか。中国から伝わってきたものでしょう。
Ushiro no hoo kara kuru no ha “shishimai” deha nai desu ka? Chuugoku kara tsutawatte kita mono deshoo.
Phải chăng cái đám múa đang tiến đến từ đằng sau là “múa sư tử”? Hình như nó từ Trung Quốc lan truyền sang.
-
田中 · Tanaka
へえ、よく知っていますね。そのとおりですよ。
Hee, yoku shitte imasu ne. Sono toori desu yo.
Chao ơi, anh biết rõ quá nhỉ. Đúng là như vậy đấy.
-
李 · Ri
以前、お祭りについての本を読んではじめて分かったのです。ところで、このパレードには何人ほどの人が参加していますか。
Izen, omatsuri nitsuite no hon wo yonde hajimete wakatta no desu. Tokorode, kono pareedo niha nan nin hodo no hito ga sanka shite imasu ka?
Vì trước đây có đọc sách về lễ hội rồi mới biết. Tiện thể cho tôi hỏi, trong cuộc diễu hành này, có khoảng bao nhiêu người tham gia vậy?
-
田中 · Tanaka
そうですね…。三百人ぐらいじゃないですか。
Soo desu ne … Sanbyaku nin gurai janai desu ka.
Để tôi nhớ coi … Hình như là khoảng 300 người.
-
李 · Ri
たくさんの人ですね。どこまでいくのでしょう。
Takusan no hito desu ne. Doko made iku no deshoo.
Nhiều người quá ha. Họ đi đến đâu vậy nhỉ?
-
田中 · Tanaka
もしかしたら、この先にある神社までかも知れませんね。
Moshikashitara, kono saki ni aru jinja made kamoshiremasen ne.
Không chừng là họ sẽ đến đền thờ Thần Đạo ở phía trước.
-
李 · Ri
ついて行きましょうか。
Tsuite iki mashoo ka?
Mình đi theo họ nhá?
-
田中 · Tanaka
いや、よしましょう。神社まで行ったって、別にどうってことはないですよ。
Iya, yoshimashoo. Jinja made ittatte, betsu ni dootte koto ha nai desu yo.
Thôi, đừng đi. Vì đi đến đền thờ Thần Đạo thì cũng không có làm gì đặc biệt cả đâu.
日本人の宗教心
「あなたの宗教は何ですか」— 外国人からこう聞かれると、たいていの日本人は困ってしまいます。「ええと、そうですねえ…仏教かなあ。でも、宗教のことを深く考えたことはないなあ」というようなはっきりしない返事が多いのです。これはどうしてでしょうか。日本人は宗教に関心がないのでしょうか。
現在、日本にはいろいろな宗教がありますが、その中で、最も信者が多いのは神道と仏教の二つです。この二つの宗教は、日本人の生活や習慣、季節の行事と深く結びついています。例えば、お正月には神社やお寺へ「初詣で」に行って、その年の幸運を祈ります。また、結婚式の多くは神式で行なわれるし、子供が生まれた後も神社へお参りに行きます。一方、葬式や祖先の霊を慰めるお彼岸やお盆の行事などは仏式で行ないます。
このように日本人の生活や習慣の中で、おめでたいことは神道、不幸なことは仏教という役割がだいたい決まっています。そして宗教を信じていない人もこのような行事には参加するのが普通です。
さて、神道と仏教はどんな宗教でしょうか。簡単に紹介しましょう。神道は古くから日本にある宗教です。古代の日本人は山だの、川だの、多くの自然物に霊魂があると信じ、それを「カミ」と名づけました。また、一部の英雄や支配者も「カミ」になりました。そして人々はそれらの「カミ」が人間に幸福や不幸をもたらすと考え、特別にあがめるようになりました。こうして神道が生まれ、「カミガミ」を祭る神社が作られたのです。
これに対して、仏教はインドで生まれ、六世紀ごろ日本に伝えられました。そして、その後の日本の文化全体に大きな影響を及ぼしました。仏教の僧侶は厳しい修行を積み重ねて、悟りを開こうとします。しかし、一般の人々の間では生きている間の苦しみを除き、死後の世界の安楽をお願い、死者を弔うための宗教として広まりました。
神道、仏教の信者数にキリスト教、その他の宗教を加えると、全部で二億二千万人ぐらいで、日本の総人口の約二倍です。このように宗教人口が多いのはひとりの人が同時に仏教と神道の信者であるからです。そして多くの日本人の家には神道の神棚と仏教の仏壇の両方が置かれています。では、日本人は宗教に熱心な国民だと言えるでしょうか。ある統計によると、日本人の宗教心は世界でもかなり低いそうです。数は多くても大部分は名ばかりの信者と言えるかも知れません。本当の信者は少ないが、宗教的行事や習慣には関心を持ち、参加する人が多い— これが今の日本人と宗教の関係だと言えそうです。
“Tôn giáo của anh là gì?” — Nếu bị người nước ngoài hỏi như thế, đại bộ phận người Nhật sẽ bị lúng túng. Nhiều câu trả lời không rõ ràng theo kiểu như: “Ừm, để tôi xem… chắc là đạo Phật nhỉ. Nhưng mà, hình như tôi chưa từng suy nghĩ sâu về chuyện tôn giáo”. Điều này là tại làm sao nhỉ? Phải chăng là người Nhật không quan tâm chuyện tôn giáo?
Hiện nay, ở Nhật có đủ loại tôn giáo, nhưng trong số đó, có nhiều người tín ngưỡng nhất là 2 loại đạo: đạo Phật và đạo Shinto. Hai tôn giáo này đã ăn sâu vào đời sống, tập quán của người Nhật, gắn kết chặt chẽ trong các hoạt động nghi thức mùa màng. Chẳng hạn, vào dịp tết, người ta đi chùa hay đi đến đền thờ Thần Đạo để “hái lộc”, cầu được nhiều may mắn trong năm đó. Ngoài ra, nhiều lễ cưới được cử hành theo nghi thức của đạo Shinto, những em bé sau khi chào đời cũng sẽ đi viếng đền thờ Thần Đạo. Mặt khác, những nghi thức của lễ Vu Lan, lễ thanh minh — lễ cầu an ủi cho linh hồn của tổ tiên, đám ma, sẽ cử hành theo nghi thức của Phật giáo.
Như vậy, trong đời sống, tập quán của người Nhật, đại khái, người ta qui định vai trò của đạo Phật là tiến hành lễ cho những chuyện bất hạnh, những chuyện vui là đạo Shinto. Và việc cả những người không tin chuyện tín ngưỡng tôn giáo cũng tham dự vào những nghi lễ như thế này, là điều bình thường.
Vậy thì, đạo Shinto và đạo Phật là loại tôn giáo như thế nào? Tôi sẽ giới thiệu một cách sơ lược. Đạo Shinto là tôn giáo có từ rất lâu ở Nhật Bản. Người Nhật thời cổ đại tin rằng núi, sông và trong nhiều sự vật tự nhiên đều có một linh hồn, người ta gọi tên nó là “Kami”. Thêm vào đó, một bộ phận những người anh hùng, những người cai trị cũng trở thành “Kami”. Và nhiều người nghĩ rằng, những người là đấng “Kami” như thế này, sẽ mang lại niềm hạnh phúc hay nỗi bất hạnh cho con người, vì vậy mà họ trở nên sùng bái quá mức. Như thế, đạo Shinto ra đời, cái đền thờ Thần Đạo để tổ chức lễ “Kamigami”, được xây dựng nên.
Trái với đạo Shinto, đạo Phật được ra đời ở Ấn Độ, và nó được truyền bá sang Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 6. Và sau đó, đạo Phật đã có một ảnh hưởng to lớn trong toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản. Những nhà sư đã tích lũy nhiều sự tu luyện đầy khổ hạnh, nên họ giác ngộ được nhiều điều. Tuy nhiên, đạo Phật được lan rộng giữa những con người nói chung, đang tồn tại trên cõi đời này đây, như một tôn giáo cầu cho họ rũ bỏ được những đắng cay nghiệt ngã của cuộc sống, cầu cho người chết được hưởng lạc nơi chín suối.
Nếu thêm số người theo đạo Thiên Chúa, và số người tín ngưỡng các đạo khác, vào số lượng người theo đạo Shinto và đạo Phật thì tổng cộng là khoảng 220.000.000 người, gấp khoảng 2 lần tổng dân số Nhật Bản. Lý do mà số người có tín ngưỡng tôn giáo nhiều như thế này, là vì có những người tín ngưỡng mà họ tôn thờ đồng thời cả đạo Shinto và đạo Phật. Trong nhiều gia đình người Nhật, bàn thờ của đạo Shinto và đạo Phật được đặt song song với nhau. Vậy thì, phải chăng, ta có thể nói rằng người Nhật là một dân tộc rất sùng bái tín ngưỡng tôn giáo? Theo một thống kê cho thấy, lòng tín ngưỡng của người Nhật khá thấp so với các dân tộc khác trên thế giới. Có thể nói rằng, số lượng người tín ngưỡng, dù có nhiều đi chăng nữa, thì phần lớn chỉ toàn là người tín ngưỡng trên danh nghĩa mà thôi. Người tín ngưỡng thật sự thì rất ít, song, trong những tập quán hay những nghi lễ mang màu sắc tín ngưỡng, thì lại có rất nhiều người quan tâm và tham dự vào — Ta có thể nói rằng, điều này chính là mối quan hệ giữa tín ngưỡng tôn giáo và người Nhật.
〜かと言うと / 〜かと言えば
いA / V (の) + かと言うと
なA / N (なの) + かと言うと
バナナとパイナップルとどちらがすきかというと、やはりバナナの方がすきだ。
Nếu nói rằng thích chuối hay dứa hơn thì chắc là tôi thích chuối hơn.
学校を卒業したらどうするかと言えば、わたしは通訳になる決心だ。
Nếu nói rằng sau khi tốt nghiệp sẽ làm gì thì tôi quyết tâm trở thành thông dịch viên.
上海の冬は必ず雪が降るかと言えば、そうでもなく、全然降らない冬もある。
Nếu mà nói là mùa đông ở Thượng Hải nhất định sẽ có tuyết thì điều đó chưa chắc vậy đâu, cũng có những mùa đông mà hoàn toàn không có tuyết rơi.
「ちょうちん」
あの人は金持ちの息子だ。あなたとはちょうちんに釣り鐘だから結婚なんかあきらめたほうがいいよ。
Người đó là con trai nhà giàu. Không tương xứng với bạn đâu, tốt hơn hết là hãy bỏ cái việc kết hôn gì đó.
あの人はいつも自分で自分のちょうちんを持つ。
Người đó lúc nào cũng tự mình khen mình.
わたしはちょうちん持ちが大嫌いだ。
Tôi rất ghét những kẻ tự cao.
〜てはじめて
病気になってはじめて健康が大切であることを知った。
Bị bệnh rồi mới biết sức khỏe quan trọng cỡ nào.
先生に注意されてはじめて自分の悪いくせを知った。
Bị thầy nhắc nhở mới biết thói xấu của bản thân.
いろいろ話し合ってはじめて、あの人の気持ちがわかった。
Trò chuyện nhiều rồi mới biết nỗi lòng của người ấy.
人を失ってはじめてその人の有難さがわかる。
Mất người đó rồi, sau mới hiểu được giá trị của họ.
もしかしたら / もしかすると
長くてあと半年、もしかしたら三か月ぐらいの命だそうだ。
Dường như mạng sống chỉ còn kéo dài đến nửa năm sau, hay không chừng là khoảng 3 tháng nữa.
もしかしたら会えるかもしれないと思ってここで待っていたのだ。
Tôi nghĩ rằng không chừng là có thể gặp nhau, nên đã chờ ở đây.
おそいなあ。もしかすると、事故にでもあったんじゃないかな。
Trễ quá à. Không chừng là anh ta gặp tai nạn chăng?
〜だの 〜だの
あまり体を動かさない仕事の人は、時々水泳だの、テニスだのをするといいですね。
Những người làm những công việc không cử động tay chân mấy, thì thỉnh thoảng nên bơi lội, chơi tennis.
父は頭が痛いだの、腹が悪いだのと言っては、毎日のように病院に行く。
Cha tôi thì than rằng bị nhức đầu, tức ngực, ngày nào cũng đi bệnh viện.
きらいだの、すきだのって言わないで、何でも食べてください。
Đừng có nói rằng ghét hay thích, mà cái gì cũng hãy ăn hết đi.
読むだの、書くだの、少しも暇がない。
Nào là đọc sách, nào là viết lách, không có chút thời gian rảnh nào.
〜に対して
飛行機で行くと三時間しかかからないのに対して、船で行くと三日かかる。
Trái với việc đi bằng máy bay chỉ mất 3 tiếng, thì nếu đi bằng tàu thuyền lại mất đến 3 ngày.
お兄さんはおしゃべりだ。それに対して、弟さんのほうは無口だ。
Người anh thì nói nhiều. Trái lại điều này, về phía người em thì lại ít nói.
「さて」
これで天気予報を終わります。さて、次に交通情報をお知らせします。
Đến đây xin kết thúc bản tin dự báo thời tiết. Vậy, tiếp theo, xin báo cáo về tình hình giao thông.
ごぶさたしております。お元気ですか。さて、この前お願いしたことですが、・・・。
Lâu quá không được gặp anh. Anh có khỏe không? Còn bây giờ, thật ra là cái chuyện mà bữa trước tôi nhờ anh …
食事は終わった。さて、店を出ると、外はひどい雨になっていた。
Ăn uống xong rồi. Chà, nếu mà bước ra khỏi quán, bên ngoài, trời mưa khủng khiếp quá.
説明を読みました。さて、実際にやってみることにしましょう。
Đã đọc xong bản hướng dẫn rồi. Nào, chúng ta hãy thử làm trong thực tế xem sao.
「名」
自衛の名のもとに侵略を図る。
Thực hiện âm mưu xâm lược dưới danh nghĩa là tự vệ.
会社の名で個人の商売をしている。
Buôn bán cá nhân bằng danh nghĩa của công ty.
名も知らぬ画家の絵がみんなを驚かせた。
Bức tranh của một họa sĩ không tên tuổi đã khiến mọi người ngạc nhiên.
世間に広く名が知れるように努力する。
Nỗ lực sao cho tên tuổi được lan rộng khắp nơi.
Sự hối tiếc — 残念な気持ちの表現
-
受付 · Tiếp tân
もう入場時間は終わりました。入場は四時までとなっております。
Đã hết giờ vào rồi. Giờ vào cửa được qui định đến 4 giờ.
-
A
えっ、四時までなんですか。五分すぎ・・・。もうだめなんですか。
Hả, đến 4 giờ à? Mới trễ có 5 phút… Không được nữa hả chị?
-
受付 · Tiếp tân
はい。もうきょうは終わりです。
Vâng. Hôm nay là kết thúc rồi.
-
A
五時までと思ったけど・・・。時間ちゃんと調べてくればよかった。残念ですね。わたしの博物館、一番見たかったのに。
Tôi cứ ngỡ là đến 5 giờ… Phải chi tôi kiểm tra giờ đàng hoàng thì tốt biết mấy. Tiếc quá à. Mặc dù tôi rất muốn xem triển lãm nhưng…
