MỞ ĐẦU

Trong tiếng Việt hiện nay, tên một số nhân vật thời Tam quốc của Trung Quốc vẫn thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp. Ví dụ, “Tào Tháo đuổi” là một uyển ngữ chỉ việc bị tiêu chảy, “đa nghi như Tào Tháo” cũng là câu so sánh thường thấy; trong chương trình Táo quân năm 2009, Gia Cát Dự là nhân vật vốn được kì vọng là dự đoán như thần vì mang họ Gia Cát nhưng cuối cùng trở thành trò cười cho mọi người vì đoán toàn sai; gần đây trên mạng xã hội Việt Nam cũng lan truyền câu “thua Gia Cát Lượng mỗi cái quạt” với ý khen ai đó xử trí nhanh nhạy trước các tình huống khó.

Tuy nhiên, vài trăm năm trước, hai nhân vật nói trên xuất hiện trong văn thơ với dụng ý khác. Gia Cát Lượng là chuẩn mực của phẩm chất trung nghĩa, triều đại Thục Hán ông phục vụ được coi là chính thống để phân biệt với sự tiếm quyền của Tào Nguỵ. Vậy tại sao nét nghĩa này lại không còn có chỗ đứng trong những phát ngôn thời hiện đại?

Giả thuyết của tiểu luận là: nét nghĩa còn tồn tại qua quá trình từ vựng hoá là nét nghĩa áp được lên quan hệ giữa người với người trong thế giới hiện đại, còn nét nghĩa gắn với thiết chế chính trị quân chủ thì mất hiệu lực vì không còn phù hợp.

Ngữ liệu khảo sát là các ngữ cảnh chứa nhân vật hoặc sự kiện thời Tam Quốc thu thập từ “Văn đàn bảo giám”. Kết quả khảo sát cho thấy nét nghĩa được dùng phổ biến trong tiếng Việt hiện đại không xuất hiện trong toàn bộ ngữ liệu trung đại ở tuyển tập nói trên.

1. Ngữ liệu và phân loại

1.1. Ngữ liệu và giới hạn

Ngữ liệu được tham khảo từ “Văn đàn bảo giám” (Trần Trung Viên sưu tầm), người viết sử dụng bản do Trần Vy Hoàng sắp xếp lại năm 1998, xuất bản năm 2004. Người viết tìm được 25 ngữ cảnh, phân bố theo thể loại như sau:

Bảng 1: Phân bố ngữ liệu theo thể loại

Thể loạiSố ngữ cảnhGhi chú
Thơ luật Đường (Nôm)9Gồm cả bài trọn vẹn và câu lẻ
Ca trù (hát nói)7Nhóm có mật độ tình tiết tiểu thuyết cao nhất
Văn tế2Đặng Đức Siêu, Võ Phát
Phú và bản dịch phú1 “Thuốc phiện” là thơ khuyết danh
Song thất lục bát3Bao gồm bản dịch thơ và thơ khuyết danh
Lục bát trường thiên1“Ngoạ Long cương vãn” của Đào Duy Từ
Hịch1Lê Duy Mật
Biền ngẫu1Nguyễn Cư Trinh

Ở đây, người viết thừa nhận 3 giới hạn của ngữ liệu:

(1) Phạm vi khảo sát hẹp: Đối tượng khảo sát thực chất không phải là điển cố Tam Quốc trong toàn bộ thơ văn Việt Nam trung đại mà là điển cố Tam Quốc trong thơ văn Việt Nam được trích dẫn trong một tuyển tập xuất hiện đầu TK20.

(2) Thiếu thông tin tiểu sử: Một số tác giả trong ngữ liệu (cụ thể là Phạm Sĩ Vy, Võ Phát và Phạm Như Xương) không được bản in cung cấp thông tin tiểu sử. Vì vậy, tiểu luận này không xét chi tiết về lịch đại mà chỉ coi toàn bộ tác phẩm đã thu thập được như một nhóm để đối chiếu với tiếng Việt hiện đại.

(3) Giới hạn về kiểm chứng văn bản gốc: Người viết chỉ phân tích dựa trên văn bản do bản in cung cấp, không đối chiếu bản gốc chữ Hán hoặc chữ Nôm của từng ngữ liệu. Ở những chỗ câu văn khó hiểu hoặc có khả năng sai sót, người viết chỉ ghi nhận sự xuất hiện của điển cố mà không suy diễn về ý nghĩa câu thơ.

1.2. “Điển cố Tam Quốc” không chỉ đến từ tiểu thuyết

Khi tiến hành phân loại, người viết nhận thấy nhiều nhân vật thời kì Đông Hán tới Lưỡng Tấn (bao gồm cả thời Tam quốc) xuất hiện trong ngữ liệu nhưng không liên quan đến điển cố nào trong tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”, có khả năng được người Việt biết đến qua ảnh hưởng thơ ca của họ.

Trong bài “Thuật hoài” (khuyết danh), Vương Xán được nhắc đến cùng với Hữu Quân tức Vương Hi Chi thời Đông Tấn. Trong “Tự tình khúc”, Cao Bá Nhạ nhắc đến Vương Xán với Hướng Tú, một trong “Trúc Lâm thất hiền” thời Tây Tấn. Tuy sống thời Tam quốc, Vương Xán không xuất hiện với tư cách nhân vật tiểu thuyết mà với tư cách một văn nhân lưu lạc thời loạn, tác giả “Đăng lâu phú” nổi tiếng. Trong “U cư” của Nguyễn Du cũng có câu: “Hành nhân mạc tụng Đăng lâu phú/ Cưỡng bán xuân quang tại hải nha”.

Trong bài ca trù “Cầm kỳ thi tửu”, Sái Văn Cơ đại diện vị trí “cầm” trong bộ tứ. Bà xuất hiện ở đây với tư cách là người giỏi nghề đàn, không kèm theo bất kì liên hệ nào tới bối cảnh Tam Quốc.

Bài phú “Thuốc phiện” lại nhắc tới Biển Thước và Hoa Đà. Biển Thước sống thời Chiến Quốc, cách Hoa Đà khoảng bảy trăm năm. Ở đây tác phẩm không nói về hai cá nhân lịch sử cụ thể mà đã coi hai cái tên như một đơn vị định danh có nghĩa “thầy thuốc giỏi bậc nhất”.

1.3. Ba kênh truyền nhập

Ngữ liệu cho thấy điển cố đi vào thơ văn Việt qua ba kênh khác nhau theo bảng 2.

Bảng 2: Ba kênh truyền nhập

KênhDấu hiệu nhận biếtCa tiêu biểu trong ngữ liệu
Thi văn cổ điển Trung HoaChất liệu đến từ thơ phú Đường Tống chứ không tới từ tình tiết truyệnBản dịch “Xích Bích phú” (tác phẩm của Tô Thức); “Vịnh Tiền Xích Bích” của Nguyễn Công Trứ; “Khánh thành sinh từ Nguyễn Hữu Độ” (nhại thơ Đỗ Phủ); “Tự vịnh” (nhắc tới “Lương phủ ngâm”)
Chính sử và văn bản gốcDẫn tên trước tác, chức quan, địa danh sử chépGia Cát Lượng của Lê Quý Đôn (hai biểu, bát trận đồ, gò Ngũ Trượng)
Tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩaDẫn tình tiết do tiểu thuyết dựng hoặc tô đậmThuyền cỏ mượn tên; Triệu Tử Long cứu ấu chúa; Quan công cư Tào; Từ Thứ quy Tào; Tôn phu nhân quy Thục; Lục xuất Kỳ Sơn

Một quan sát đáng chú ý là kênh tiểu thuyết tập trung rõ rệt ở ca trù và ở nhóm tác giả Nam Bộ, trong khi kênh thi văn cổ điển tập trung ở tác giả khoa bảng. Với quy mô ngữ liệu hiện có, đây chỉ là xu hướng chứ chưa đủ để kết luận, nhưng điều này gợi ý rằng kênh truyền nhập có tương quan với thể loại và môi trường văn hoá của tác giả.

2. Các nét nghĩa được sử dụng

2.1. Phân loại theo chức năng

Thay vì phân loại theo nhân vật, người viết phân loại theo chức năng của điển cố trong tác phẩm. Con số trong bảng có tính quy ước vì một số bài có thể xếp vào nhiều hơn một nhóm.

Bảng 3: Phân loại theo chức năng

Chức năngSố bàiBài tiêu biểu
Vịnh sử, tưởng niệm nhân vật5“Gia Cát Lượng”; “Quan Đế”; “Triệu Tử Long”; “Lục xuất Kỳ Sơn”
Tự nói về mình5“Ngoạ Long cương vãn”; “Hữu chí cánh thành”; bài của Cao Bá Nhạ, Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Như Xương
Mượn lời nhân vật để tự biện hộ cho việc làm trái3Các bài của Tôn Thọ Tường
Cấp tính chính thống chính trị2“Văn tế Bá Đa Lộc”; “Hịch đánh Trịnh”
Chuẩn mực để khen tặng người đương thời2“Văn tế Cao Thắng”; “Gần sáng”
Mỉa mai người đương thời1“Khánh thành sinh từ Nguyễn Hữu Độ”
Nhắc tên nhân vật để nói về một phẩm chất4Hoa Đà, Sái Văn Cơ, Vương Xán

2.2. Sự áp đảo của nét nghĩa liên quan đến quan hệ quân thần

Gia Cát Lượng xuất hiện trong 13/25 ngữ cảnh. Trong toàn bộ mười ba ngữ cảnh, Gia Cát Lượng chỉ xuất hiện dưới 4 hình ảnh: người ẩn cư chờ minh chủ, bề tôi tận tuỵ, người có tài mà không gặp thời, tấm gương để so sánh với người đương thời. Đặc biệt, bài thơ của Lê Quý Đôn đưa toàn bộ hình ảnh đó vào 8 câu.

Cả 4 hình ảnh này đều chỉ có ý nghĩa khi mối quan hệ quân thần tồn tại. Ví dụ, câu thơ “Vì cảm ơn sâu biết tính sao” chỉ có nghĩa trong thời phong kiến, nơi việc đền ơn tri ngộ giữa vua tôi là một phạm trù đạo đức.

Đáng chú ý là ngay cả khi điển cố được dùng để nói về một người hoàn toàn xa lạ với thế giới Nho giáo thì yếu tố “quân thần” vẫn được giữ nguyên. Trong bài văn tế do Hoàng tử Cảnh đứng tên tế Bá Đa Lộc, Đặng Đức Siêu đặt một giám mục người Pháp vào vị trí của Gia Cát Lượng. Chi tiết này cho thấy điển cố có chức năng đưa một nhân vật nằm ngoài trật tự quan hệ Nho giáo vào bên trong nó, khiến nhân vật được xem xét theo đúng khung đánh giá của người bản xứ.

2.3. Hai nét nghĩa hiện đại không xuất hiện

Trong tiếng Việt hiện nay, nét nghĩa gắn chặt nhất với Tào Tháo là tính đa nghi, biểu hiện ở lối nói so sánh “đa nghi như Tào Tháo”. Bên cạnh đó, nét nghĩa gắn chặt nhất với Gia Cát Lượng là khả năng tiên đoán, liệu việc như thần. Cả hai nét nghĩa này đều được mượn từ những tình tiết thuộc “Tam Quốc diễn nghĩa” như Tào Tháo giết nhầm cả nhà Lã Bá Sa hay Gia Cát mượn gió đông. Tuy nhiên, trong toàn bộ 25 ngữ cảnh đang xét, hai nét nghĩa này không xuất hiện.

Bảng 4. Toàn bộ các ngữ liệu có Tào Tháo và nét nghĩa được sử dụng

Ngữ liệuCách dùng từNét nghĩa
Văn văn tế Bá Đa Lộcgiặc quỷ Tào ManKẻ tiếm quyền, đối lập với chính thống
Hịch đánh Trịnhcủa TháoNguồn cám dỗ vật chất cần cưỡng lại
Quan Đếbạc đất TàoNguồn cám dỗ vật chất
Từ Thứ quy Tàovề Tào, dại NguỵViệc phải phụng sự bất đắc dĩ cho chủ mới
Quan công cư Tàoân TàoNgười ban ơn mà vẫn phải rời bỏ
Lục xuất Kỳ SơnBắc phạt họ Tào, diệt TàoĐối thủ quân sự
Triệu Tử LongTào binhLực lượng đối địch
Bản dịch Xích Bích phúthơ Mạnh ĐứcAnh hùng một thời, đối tượng của cảm thương

Trường hợp cuối cùng đặc biệt đáng chú ý vì nó thể hiện thái độ thương tiếc chứ không lên án. Trong bản dịch Xích Bích phú, Tào Tháo được gọi bằng tên tự là Mạnh Đức, hiện lên với hình ảnh múa giáo ngâm thơ.

Tổng kết lại, Tào Tháo trong ngữ liệu trung đại luôn được định vị bằng yếu tố chính trị: kẻ tiếm quyền, phe đối lập, nguồn cám dỗ hoặc anh hùng đáng ngợi ca.

Điều tương tự xảy ra với Gia Cát Lượng với những hình tượng như trung thần, ẩn sĩ, đi cùng với tác phẩm để đời như Xuất sư biểu, Lương phủ ngâm, với cái chết đầy tiếc nuối ở Ngũ Trượng Nguyên.

Như vậy, sự chuyển dịch của điển cố từ trung đại sang hiện đại không phải là quá trình thêm nghĩa mới mà là quá trình chọn lọc trong số các nét nghĩa vốn đã có sẵn để sử dụng.

3. Giải thích về quá trình từ vựng hoá điển cố

Đối chiếu ngữ liệu trung đại với các đơn vị đang lưu hành trong tiếng Việt hiện nay, người viết đề xuất một thang 5 bậc để mô tả quá trình từ vựng hoá.

Bảng 5: Thang 5 bậc từ vựng hoá

BậcĐặc điểmVí dụ
0: Điển cố nguyên dạngNhắc tới trọn vẹn một điển cố; cần tri thức nền để hiểu và cần thiết chế chính trị phong kiến mới có hiệu lựcToàn bộ nhóm vịnh sử và nhóm cấp tính chính thống trong ngữ liệu
1: Trích xuất một nét nghĩaCấu trúc so sánh còn nguyên; người nói vẫn ý thức đang nhắc tới nhân vật lịch sử“Đa nghi như Tào Tháo”
2: Tên riêng thành thước đo phẩm chấtTrở thành một khung đánh giá, không cần nhắc về  điển cố“Thua Gia Cát Lượng mỗi cái quạt”
3: Tạo từ mới từ tên nhân vậtTên riêng bị cắt đôi, họ được dùng như hình vị mang nghĩa độc lập“Gia Cát Dự” (nhân vật trong Táo quân 2009 và 2010)
4: Thành ngữ hoá hoàn toànNghĩa không suy ra được từ bất kỳ nét tính cách nào của nhân vật, người nghe cần suy luận ý nghĩa“Tào Tháo đuổi”

Đối chiếu bậc 0 với các bậc còn lại, có thể thấy một khác biệt mang tính hệ thống. Các nét nghĩa ở bậc 0 đều đòi hỏi một thiết chế bảo chứng như “trung nghĩa” cần có quan hệ quân thần, “chính thống” cần có khái niệm về dòng chính và kẻ tiếm quyền. Khi thiết chế quân chủ không còn, các nét nghĩa này không mất nghĩa mà chúng mất hiệu lực trong thời hiện đại. Người nói vẫn hiểu khi nghe hay đọc nhưng không còn tình huống nào để dung, trừ khi đề cập tới câu chuyện lịch sử. Ngược lại, các nét nghĩa ở bậc 1 tới bậc 3 đều thuộc loại đặc điểm cá nhân. Chúng áp được lên bất kỳ ai, trong bất kỳ quan hệ nào và không cần thiết chế chính trị bảo chứng.

4. Ứng dụng cho giảng dạy tiếng Việt

Người học tiếng Việt đến từ vùng văn hoá Hán tự gặp một trở ngại nếu gặp phải các điển cố văn học này trong ngôn ngữ nói hay viết hiện đại. Ví dụ, người học đến từ Nhật Bản đã có sẵn tri thức nền về Tam Quốc qua tiểu thuyết, truyện tranh và trò chơi điện tử, tuy nhiên họ sẽ không dễ dàng hiểu được các điển cố nói trên vì tiếng Nhật cũng từ vựng hoá điển cố Tam Quốc nhưng theo một hướng khác. Các đơn vị như “tam cố thảo lư” trong tiếng Nhật đi vào tầng thành ngữ trang trọng, dùng được trên báo chí và thậm chí tình tiết này được cải biên để đưa vào phim cổ trang Nhật. Trong khi đó, tiếng Việt đưa một số cái tên và điển cố xuống tầng khẩu ngữ suồng sã. Người học Nhật Bản có thể xử lý được các từ vựng bậc 0 và bậc 1 nhưng sẽ cần thời gian tìm hiểu để đọc hiểu bậc 3 và bậc 4.

KẾT LUẬN

Qua việc khảo sát 25 ngữ cảnh trong “Văn đàn bảo giám”, ta có thể thấy các nét nghĩa trong tiếng Việt hiện đại vắng mặt trong toàn bộ ngữ liệu. Quá trình từ vựng hoá các điển cố không phải là quá trình thêm nghĩa mà là quá trình chọn lọc từ các nét nghĩa có sẵn. Nét nghĩa nào cần trật tự chính trị bảo chứng thì mất hiệu lực cùng trật tự ấy, nét nghĩa áp được lên quan hệ xã hội hiện đại tiếp tục phát triển tới mức sinh ra từ mới.

Hướng mở rộng khả thi để khắc phục hạn chế là bổ sung ngữ liệu từ các hợp tuyển khác để kiểm tra xem sự áp đảo của các từ vựng hướng về nét nghĩa quân thần có phải là hệ quả của tầng lọc biên soạn hay không và tiến hành khảo sát thực nghiệm trên người học nước ngoài để kiểm chứng các dự đoán về lỗi đã nêu ở phần 4.

PHỤ LỤC: NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN

Toàn bộ ngữ liệu dưới đây thu thập từ Văn đàn bảo giám

A. Thơ Đường luật

1. Lê Quý Đôn, “Gia Cát Lượng”

Long Cương nằm khểnh hát nghêu ngao

Vì cảm ơn sâu biết tính sao

Hai biểu ra quân lòng đã tỏ

Tám đồ bày trận giá càng cao

Tam phân gặp buổi đương tranh vạc

Ngũ Trượng ngờ đâu bỗng tối sao

Miếu cũ ngày nay qua tới đó

Tấc lòng khởi kính biết là bao

2. Tôn Thọ Tường, “Từ Thứ quy Tào”

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi

Muối sát lòng ai nấy mặn mòi

Ở Hán còn nhiều trang cột cả

Về Tào chi xá cụm cây còi

Mảng nghe tin mẹ khôn nâng chén

Chạnh tưởng ơn vua biếng giở roi

Chẳng đặng khôn Lưu thà dại Nguỵ

Thân này xin gác ngoại vòng thoi

3. Tôn Thọ Tường, “Tôn phu nhân quy Thục”

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng

Nghìn thu rạng tiết gái Giang Đông

Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc

Về Hán trau tria mảnh má hồng

Son phấn thà cam đầy gió bụi

Đá vàng chi để thẹn non sông

Ai về nhắn với Châu Công Cẩn

Thà mất lòng anh đặng bụng chồng

4. Bùi Hữu Nghĩa, “Quan Đế”

Hạ Bì thuở nọ chẳng màng nao

Gương rạng chi lầm chước túng thao

Chén rượu anh em keo gắn chặt

Tấm son tôi chúa đuốc chong cao

Theo rồng dốc nhóm mây trời Hán

Xuống ngựa đâu tham bạc đất Tào

Hai mối cương thường gồm đặng cả

Ngàn năm thơm để miệng người rao

5. Khuyết danh, “Quan công cư Tào”

Tôi chúa đôi phương cảnh quạnh hiu

Cũng vì một chút nghĩa liu điu

Ân Tào vi đúc ngàn cân đặng

Nợ Hán còn mang một gánh chìu

Đuốc ngọc canh khuya trời một góc

Vườn đào nguyên cũ ruột trăm chiều

Này ai muốn biết đầu đuôi thế

Xin hỏi chàng Trương nỗi khúc khiu

6. Phan Thanh Giản, “Gần sáng” (trích)

Ải soái Thường Xuân vừa cất gánh

Thuyền tên Gia Cát mới gay chèo

7. Nguyễn Đình Chiểu, “Tự thuật” (trích)

Khoẻ mắt Hi Di đời ngũ quý

Mỏi lòng Gia Cát lúc tam phân

8. Phạm Như Xương, “Quốc biến năm Ất Dậu” (trích)

Mỏi mắt Hi Di trời ngũ quý

Nhọc lòng Gia Cát đất tam phân

B. Ca trù

9. Tản Đà, “Lục xuất Kỳ Sơn”

Mưỡu:

Ngồi buồn nhớ chuyện người xưa,

Nhớ ông Gia Cát bây giờ nơi nao?

Sáu phen Bắc phạt họ Tào,

Kỳ Sơn chí khí anh hào nghìn thu.

Nói:

Lục xuất Kỳ Sơn Gia Cát Lượng,

Tấm trung tinh treo sáng cõi nhân hoàn.

Biểu xuất sư hoà lệ chứa chan,

Bao xiết nghĩ giang san cùng ấu chúa.

Thành bại, hưng vong, nguyên hữu số,

Tranh hùng cát cứ khả do nhân.

Cuộc trần ai còn có sức kinh luân,

Sao đã chịu tam phân hình đỉnh túc.

Anh hùng tự cổ nan tri túc,

Kể làm chi vinh nhục nghĩa hư vô.

Diệt Tào rồi sẽ thôn Ngô.

10. Khuyết danh, “Triệu Tử Long”

Triệu Tử Long nhất thân đô thị đảm

Trận Đương Dương thân hãm trùng vi

Thả hành thả chiến mã như phi

Bão A Đẩu thủ trì tam xích

Tứ diện Tào binh vi tự bích

Nhất thân mã thượng quyển như vân

Cơn dọc ngang xung đột mấy lần

Bảy mươi hai trận phong trần chẳng vướng

Tào binh lẻ năm mươi chư tướng

Long lanh về một mũi gương rồng

Cờ Thường Sơn ông Triệu Tử Long

Nhất nhân địch vạn quân trung tướng tài

Làm trai cho đáng nên trai

11. Khuyết danh, “Bài hát Hà Liễu” (trích)

Ví dù Gia Cát sinh lai

Vạc Lưu chưa dễ vào ai tay cầm

Trai anh hùng hữu tâm địch khái

Phù trung hưng đêm lại nhà vương

12. Nguyễn Công Trứ, “Vịnh tiền Xích Bích” (trích)

Sực nhớ kẻ quây ngọn giáo vịnh câu thơ thuở trước

Nghĩ sự đời nên cảm nỗi phù du

13. Nguyễn Công Trứ, “Hữu chí cánh thành” (trích)

Duyên ngư thuỷ còn dành cơ hội lại

Quyết tang bồng cho phỉ chí trượng phu

14. Dương Khuê, “Tự vinh” (trích)

Thơ ngâm Lương phủ người ngoài núi

Đàn gẩy Cao Sơn khách ngọn đèo

15. Dương Khuê, “Khánh thành sinh từ Nguyễn Hữu Độ” (trích)

Thừa tướng đại danh thuỳ vũ trụ

Sinh từ trường dữ thử giang sơn

(Nhại theo câu thơ của Đỗ Phủ viết về Gia Cát Lượng; bài mang ý mỉa mai.)

16. Khuyết danh, “Cầm kỳ thi tửu” (trích)

Kìa thục nữ hình dung yểu điệu

Biết biện cầm là Sái Văn Cơ

C. Văn tế, phú, hịch, biền ngẫu

17. Đặng Đức Siêu, “Hoàng tử Cảnh tế ông Bá Đa Lộc” (văn tế, trích)

Ngỡ thấy nhà Lưu vận ách, đất Hứa Xương rộng rãi, đã khó khăn giặc quỷ Tào Man;

Từng than thế Hán thiếu binh, nơi Tân Dã hẹp hòi, lại khôn dụng đồ chim Gia Cát.

(Câu văn có chỗ khó hiểu, chưa tìm và đối chiếu với bản gốc; ở đây chỉ ghi nhận việc nhắc tới Gia Cát Lượng để nói về Bá Đa Lộc.)

18. Võ Phát, “Văn tế Cao Thắng” (trích)

Thiên tài toan học chước Võ hầu, chế súng đạn biết bao chừng cơ trí

19. Lê Duy Mật, “Bài hịch đánh Trịnh” (trích)

Buộc yên ngựa chớ tham của Tháo

Hội vườn đào đừng phụ nghĩa Lưu

20. Nguyễn Cư Trinh, “Truyện sãi vãi” (biền ngẫu, trích)

Gái như Thái Văn Cơ, gái mà biết phân cầm nên khúc;

Thương Gia Cát có tài lương đống gặp chúa chẳng gặp thời

21. Khuyết danh, “Thuốc phiện” (phú, trích)

Lúc ốm đau điều dược cũng thần, trị bệnh đến Biển Thước Hoa Đà khôn đọ

22. Phạm Sĩ Vy, bản dịch Xích Bích phú (trích)

Thơ Mạnh Đức cảm tình còn đó

Để ta nay hoài cổ chạnh lòng

Nhớ người nhớ cảnh buồn trông

Vũ Xương tây Hạ Khẩu đông đôi đường

Sông với núi ngổn ngang lối cũ

Chỗ này Ngô đánh đổ Tào binh

Nhớ ngày nào phá châu Kinh

Giang Lăng lại lấy xuôi mành sang đông

Thuyền muôn dặm cờ rong mười đạo

Tiệc khao binh múa giáo ngâm thơ

Anh hùng ngang dọc khi xưa

Mà con người ấy bây giờ là đâu

D. Ngâm khúc và lục bát trường thiên

23. Cao Bá Nhạ, “Tự tình khúc” (trích)

Mắt trông Vương Xán đã mòn

Tay đề Hướng Tú vẫn còn ngẩn ngơ

24. Khuyết danh, “Thuật hoài” (song thất lục bát, trích)

Lầu minh nguyệt hỏi phường Vương Xán

Hội lan đình tìm bạn Hữu Quân

25. Đào Duy Từ, “Ngoạ Long cương vãn” (lục bát, trích)

Cá mừng gặp nước Nam Dương

Rồng bay trời Hán vội vàng làm mưa

(đây là hai câu thơ tiêu biểu, toàn bộ bài thơ đều nói về tích “Tam cố mao lư”)

Hà Phan

Một con mèo thích đọc chuyện chính trị.

Để lại một bình luận