Tôi thường nghe nhiều người kháo nhau rằng học list từ vựng như các từ đã xuất hiện từ đề cũ, list từ vựng N2 N1, list phó từ cần biết, … thì tiện lợi và tăng vốn từ nhanh, dẫn đến đọc hiểu tốt hơn.
Thực tế thì sao?
Hãy thử tưởng tượng hai người cùng bắt đầu ôn thi JLPT N2.
Người thứ nhất mở cuốn sách từ vựng, nhìn vào danh sách 100 từ của bài đầu tiên, bắt đầu học thuộc từng từ một. Người thứ hai mở một bài báo tiếng Nhật, đọc, tra những từ không biết, rồi thảo luận với giáo viên về nội dung bài.
Sáu tháng sau, ai nhớ nhiều từ hơn? Ai đọc hiểu tốt hơn trong phòng thi?
Theo kinh nghiệm của tôi, đó không phải người thứ nhất. Để hiểu tại sao, cần bắt đầu từ chính những gì phòng thi thực sự kiểm tra.
Bài thi đọc hiểu thực sự kiểm tra điều gì?
Phần đọc hiểu JLPT N2-N1 không kiểm tra bạn có biết nghĩa 100 từ trong một danh sách không. Nó kiểm tra bạn có thể đọc một đoạn văn học thuật dài, nắm được lập luận của tác giả, và phân biệt được ý chính với ý phụ không.
Những kỹ năng đó không đến từ việc học thật nhiều từ vựng tiếng Nhật. Chúng đến từ việc học cách xử lí văn bản thực tế nhiều lần, trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Đôi khi bạn không cần hiểu 100% từ vựng trong bài để nắm được ý chính của đoạn văn.
Vậy vấn đề nằm ở đâu trong việc học một danh sách từ dài dằng dặc?
Vấn đề với học list từ vựng
Không phải những list liệt kê 100 từ mỗi bài là vô dụng. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang dùng chúng sai mục đích. Một thứ như vậy thực ra là công cụ đánh giá, không phải công cụ học. Nó cho bạn biết bạn cần biết những từ nào ở cấp độ đang học, nhưng lại không cho bạn biết học chúng như thế nào để thực sự nhớ và dùng được.
Thực tế thường thấy là sau khi học sách từ vựng một thời gian, học viên chuyển sang giai đoạn ôn đọc hiểu, họ bắt đầu gặp khá nhiều từ mà họ cho là mới, đi tra rất mất thời gian nhưng khi mở sách từ vựng ra, họ bất ngờ vì rất nhiều từ đã học qua mà không nhớ.
Cách học như vậy chắc chắn không hiệu quả. Thực ra việc học không kết thúc khi bạn đã nhớ từ vựng, mà chính xác lúc này mới chỉ là KHỞI ĐẦU, vì bạn mới xong bước “nhập dữ liệu đầu vào” mà chưa có “thực hành để tạo đầu ra”. Cụ thể trong trường hợp này, bạn đã nhớ từ vựng rồi, nhưng 2 ngày sau tôi đưa cho bạn văn bản chứa những từ vừa học, bạn đã quên gần hết.
Khi bạn học một danh sách 100 từ tách khỏi ngữ cảnh, bộ não bạn không có điểm neo nào, từ cứ đi vào rồi đi ra. Bạn làm bài tập multiple choice đúng hôm nay, tuần sau có thể không còn nhớ nữa. Quan trọng hơn là bạn biết nghĩa từ nhưng không biết từ đó sống như thế nào trong văn bản thực tế.
Tôi luôn khuyến khích mọi người đọc bài trước, tự phỏng đoán ý nghĩa của từ chưa biết dựa trên kiến thức đã có, sau khi nắm được ý chính đoạn văn rồi mới đi tra từ mới để kiểm chứng.
Lí thuyết đằng sau
Đây không phải quan điểm tôi tự nghĩ ra mà dựa trên lí thuyết các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu trong nhiều thập kỉ.
Comprehensible Input (Stephen Krashen)
Năm 1982, nhà ngôn ngữ học Stephen Krashen đề xuất lí thuyết Comprehensible Input (CI). Luận điểm cốt lõi rất đơn giản: chúng ta tiếp thu ngôn ngữ không phải bằng cách học từng quy tắc hay từng từ một cách cô lập, mà bằng cách hiểu thông điệp, tức là tiếp xúc với ngôn ngữ ở mức độ hơi cao hơn trình độ hiện tại một chút, nhưng vẫn đủ để hiểu được nội dung. Krashen gọi đây là i+1: nếu i là trình độ hiện tại của bạn, thì input lý tưởng là i+1, không quá dễ đến mức không học thêm được gì, không quá khó đến mức không hiểu gì cả.
Trên thực tế, CI chịu nhiều phê phán chính đáng từ việc không giải thích được kĩ năng output (nói và viết) đến tính thiếu kiểm chứng về mặt khoa học. Tuy nhiên, phần lớn các phản biện này nhắm vào CI như một lí thuyết toàn diện về tiếp thu ngôn ngữ, không phải về hiệu quả của nó trong một lĩnh vực cụ thể: học từ vựng.
Content-Based Instruction
Lí thuyết thứ hai liên quan trực tiếp đến cách tôi thiết kế buổi học đọc hiểu: Content-Based Instruction (CBI). Thay vì lấy ngôn ngữ làm trung tâm, CBI lấy nội dung làm trung tâm và để ngôn ngữ xuất hiện tự nhiên trong quá trình hiểu nội dung đó.
Ví dụ điển hình nhất: trẻ em học tiếng mẹ đẻ không bao giờ học theo danh sách từ. Chúng học vì chúng muốn hiểu chuyện gì đang xảy ra xung quanh, muốn nói chuyện với người thân, muốn kể lại điều vừa thấy. Ngôn ngữ là phương tiện, không phải mục tiêu.
Với người học tiếng Nhật trình độ N2-N1, CBI có nghĩa là: thay vì học về ngôn ngữ tiếng Nhật, bạn dùng tiếng Nhật để tìm hiểu về một chủ đề thật như xã hội, giáo dục, môi trường, văn hóa sẽ hiệu quả hơn nhiều. Từ vựng và ngữ pháp xuất hiện như công cụ để hiểu chủ đề đó, không phải như đích đến.
Nation và học từ vựng theo ngữ cảnh
Paul Nation, một trong những chuyên gia hàng đầu về từ vựng học, chỉ ra rằng để một từ thực sự “vào” bộ nhớ dài hạn, người học cần gặp từ đó trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, ít nhất 10-15 lần. Học từ một lần trong danh sách không đủ, não chưa có lý do gì để giữ nó lại. Nhưng nếu bạn gặp từ đó trong một bài báo thú vị, thảo luận về nó với giáo viên, dùng nó để diễn đạt ý kiến của mình, rồi sau đó gặp lại nó trong một bài khác, mỗi lần gặp là một lần củng cố thêm mạng lưới kết nối. Từ vựng khi ấy không còn tồn tại độc lập mà gắn với câu chuyện, cảm xúc, và ngữ cảnh cụ thể.
Cách tôi học tiếng Nhật tại Nhật
Khi học khoá dự bị đại học ở Nhật, tôi không một lần nào được phát một danh sách 100 từ và bảo “học đi.”
Thay vào đó, mỗi buổi học xoay quanh một bài đọc, và các môn Lịch sử, Địa lí, Quan hệ quốc tế đều được học bằng tiếng Nhật. Từ vựng xuất hiện trong bài học, ngữ pháp được giải thích qua câu trong bài học, thảo luận trên lớp cũng bắt đầu từ nội dung bài học. Đây chính xác là CBI trong thực tế.
Kết quả: ôn lại một bài đọc là ôn được đồng thời vài chục từ vựng, mười mấy mẫu câu, cộng thêm ngữ cảnh văn hóa đi kèm. Tất cả gắn với nhau như một mạng lưới, đúng như những gì Nation mô tả về cách từ vựng được lưu trữ trong bộ nhớ dài hạn.
Điều tôi chú ý nhất là bản thân không còn sợ bài đọc hiểu dài của N2 hay N1 nữa, vì mỗi bài đọc đã được mổ xẻ, thảo luận, đặt câu hỏi kĩ càng trên lớp. Đọc hiểu không còn là đối mặt với một văn bản xa lạ mà là gặp lại một dạng văn bản quen thuộc trong lớp áo mới.
Nhìn lại lớp học của tôi
Tôi đã áp dụng phương pháp này cho học viên của mình, với quy trình ba bước:
Chuẩn bị bài trước → Trao đổi với giáo viên → Đọc lại sau buổi học
Quy trình này không phải ngẫu nhiên, nó phản ánh chu kì notice → comprehend → consolidate mà các nhà nghiên cứu cho là cần thiết để từ vựng và ngữ pháp đi vào bộ nhớ dài hạn.
Kết quả ở trình độ trung cấp, các học viên học đọc hiểu hoàn toàn theo phương pháp này từ sơ cấp đạt trên 40 điểm phần đọc hiểu. Điều đáng chú ý là họ không ôn luyện đề thi bằng mẹo gì cả. Họ đọc, phân tích, thảo luận trên lớp và điểm số là kết quả của quá trình đó.
Hầu hết giáo trình từ vựng áp đặt workflow này:
List từ → học thuộc → tìm ngữ cảnh
Đây là biểu hiện của việc coi trọng đầu vào hơn đầu ra, trong khi chúng ta cần phải làm ngược lại. Giảm thời gian đầu vào bằng CI, kéo dài thời gian đầu ra như vận dụng viết mail, report hay blog, luyện tập phát biểu sử dụng các từ đã học mới là con đường ngắn nhất để nâng cao kĩ năng.
Bên trên không phải cách não người học ngôn ngữ tự nhiên, vậy workflow tự nhiên hơn và được lí thuyết CI ủng hộ là gì?
Ngữ cảnh thật → gặp từ → hiểu nghĩa → nhớ lâu
Giả sử khi ôn thi, nếu rút ngắn thời gian học thuộc từ vựng chay, dành nhiều thời gian làm thử các bài tập, luyện các dạng bài thì chắc chắn hiệu quả học tập sẽ được nâng cao.
Điều này không có nghĩa là sách từ vựng vô dụng mà ta phải nhìn nhận lại cách dùng chúng. Ví dụ, nếu học viên có biểu hiện khó tập trung khi nghe phân tích từ vựng quá lâu, thay vì dùng 45p giải thích nghĩa tất cả các từ trong bài, tôi chỉ nói qua ý nghĩa, sau đó tiến hành làm bài tập. Chắc chắn học viên sẽ chưa biết hoặc chưa nhớ nghĩa của từ, khi này giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi mở để họ tự tưởng tượng, vận dụng kiến thức đã biết để suy ra nghĩa của từ hoặc nghĩ xem nên đặt từ có ý nghĩa gì vào ngữ cảnh này. Khi đã có câu trả lời thích hợp, họ sẽ tìm kiếm từ đó từ bảng từ vựng đã cho, hoàn thành bài tập mà không cảm thấy chán nản vì mình không thuộc từ.
Kết
Những gì tôi chia sẻ trên đây cũng là lí do tôi muốn xây dựng lớp học đọc hiểu không dựa trên giáo trình luyện thi truyền thống để cố tìm ra đáp án cho câu hỏi mà phải hiểu cặn kẽ bài đọc dựa trên phân tích văn bản thật: tiểu thuyết, bài báo, tiểu luận, trích đoạn sách chuyên ngành.
Kết quả tôi kì vọng không chỉ là học viên có điểm thi cao hơn mà còn nâng cao khả năng đọc tiếng Nhật học thuật hay các văn bản hành chính trong quá trình làm việc và học tập ở Nhật.
Bạn đang học theo phương pháp nào? Và phần nào trong bài thi tiếng Nhật bạn thấy khó nhất? Chia sẻ ở phần bình luận nhé.
Tham khảo thêm một số trang web về tiếng Nhật
Đăng kí học tiếng Nhật: https://forms.gle/X44hZPKAoJUvUYua7
Behance của mình: https://www.behance.net/phanthuha62
Tổng hợp ngữ pháp tiếng Nhật: https://phanthuha.me/category/tieng-nhat/
Đọc thêm về Jujutsu Kaisen: https://phanthuha.me/category/jujutsu-kaisen/
Đọc thêm về Tam quốc: https://phanthuha.me/category/tam-quoc/
