Hay “Chúng ta nên học chia động từ trong tiếng Nhật ra sao?“
Bất kì ai từng dạy hoặc học tiếng Nhật theo みんなの日本語 chắc đều quen với cảnh này:
Học viên qua được 13 bài đầu một cách tương đối thuận lợi, biết giới thiệu bản thân, hỏi đường, mua đồ, đặt hàng ở quán ăn. Họ cảm thấy mình đang có tiến bộ, rồi hào hứng đến bài 14, và bùm: て形 xuất hiện. Tự nhiên mọi thứ rối tung, sự rối tung này không kết thúc ở bài 14 mà kéo dài qua bài 15 (て形 + います), bài 16 (て形 nối câu), bài 17 (ない形), bài 18 (辞書形), bài 19 (た形), đến tận khoảng bài 20 thì học viên mới bắt đầu hết hoảng loạn. Một số người không qua được giai đoạn này và bỏ học.
Khá nhiều người đồng cảm với câu chuyện này, vậy bạn có từng tự hỏi: Đã có ai nghĩ ra phương pháp nào khác giúp người học dễ dàng tiếp thu hơn chưa?
Một cuốn sách dám đặt câu hỏi
Năm 2015, Ebihara Mineko xuất bản cuốn “日本語教師が知らない動詞活用の教え方”. Tác giả vốn không phải dân Ngôn ngữ học, bà tốt nghiệp khoa Toán Đại học Sophia, lập trường tiếng Nhật ở Singapore từ năm 1985, và đến năm 1986 phát triển một phương pháp mà bà đặt tên là “動詞活用一括導入” (dạy toàn bộ các dạng chia động từ cùng lúc). Phương pháp này được cấp bằng sáng chế, được hơn 150000 học viên sử dụng và được 250 công ty Nhật chọn để đào tạo nội bộ.
Lập luận của Ebihara: vấn đề của các giáo trình hiện hành chính là dạy ます形 trước rồi mới rải rác các hình thức khác trong cả năm học. Lập luận của bà có ba điểm:
- Bộ não con người ghi nhớ pattern dễ hơn khi pattern hoàn chỉnh, không phải rời rạc.
- Tiếng Nhật có một hệ thống chia động từ tuyệt đẹp gắn liền với bảng 50 âm. Đối với động từ Nhóm 1, sáu hình thức chia chạy đúng theo hàng 50 âm: ない nằm hàng あ, ます hàng い, từ điển hàng う, ば hàng え, よう hàng お.
- Ngay buổi đầu học ngữ pháp nên dạy luôn 6 hình thức chia của hai động từ いく và くる, cộng với 6 công thức câu (ない+んです, ます, 辞書+んです, ば+いいですか, よう+とおもいます, て+ください). Sau ngày đầu tiên, học viên đã có thể nói được 12 mẫu câu thực tế.
So với “みんなの日本語” bài 1 chỉ có 「私はミラーです」, cách tiếp cận này tham vọng hơn và chắc chắn hiệu quả hơn theo quan điểm của tác giả.
Dưới đây là cách học 50 âm theo ý tưởng của Ebihara:


Nhìn vào bảng ta có thể hiểu: Ebihara muốn học viên nhớ bảng chữ cái song song cách chia các thể động từ, vì mỗi hàng sẽ ứng với các cách chia của 1 động từ nhóm 1.
Trong cuốn sách nói về phương pháp giảng dạy, bà cũng phê phán việc giáo trình đưa は vào bài đầu, rồi đưa が vào bài あります mà không phân biệt rõ. Học viên do đó nhầm tưởng は là trợ từ xác định chủ ngữ, đến khi が xuất hiện thì học viên vô cùng hoang mang. Cách của bà là dạy 格助詞 (trợ từ cách が, を, に, へ, で, …) trước, sau đó mới giới thiệu は như công cụ để biến bất kì thành phần nào trong câu thành chủ đề.
Tôi đồng tình hay phản đối?
Về trợ từ, cách dạy của tôi cũng vận hành theo logic như sách nói nên không có gì để tranh luận.
Tôi cũng đồng ý hoàn toàn với chẩn đoán bệnh: thiết kế bài giảng của Minna chưa ổn. 6 bài chấm hỏi từ 14 đến 20 không phải là do học viên kém, đây là kết quả có thể dự đoán khi thiết kế giáo trình.
Tuy nhiên, điểm tôi không đồng ý với Ebihara rằng vấn đề nằm ở thứ tự dạy thể nào của động từ. Theo tôi, vấn đề là thông tin học viên được cung cấp trước khi học.
Dạy ます形 đầu tiên không có vấn đề gì, hoàn toàn có lí do để dạy ます形 trước. Tôi vẫn dạy thể lịch sự trước vì học viên người Việt khi gặp người Nhật đa phần là trong bối cảnh cần dùng câu lịch sự (công việc, du học, du lịch). Dùng thể lịch sự với bất kì đối tượng nào cũng an toàn hơn dùng thể thường sai bối cảnh. Dùng sai có thể gây thiệt hại quan hệ đôi bên, vậy nên học cái an toàn trước là hợp lí. Vấn đề là nhiều giáo viên dạy ます形 như thể nó là toàn bộ câu chuyện về động từ trong tiếng Nhật ở giai đoạn đầu.
Bài 14-20 Minna không gây hoảng vì học viên chưa từng thấy て形 trước đó. Nó gây hoảng vì học viên chưa từng được cho biết rằng て形 tồn tại, rằng ます形 chỉ là một trong nhiều cách chia, rằng động từ tiếng Nhật vận hành theo một hệ thống lớn hơn cái họ đang thấy. Trong 13 bài đầu, ます được trình bày như thể đó là dạng động từ duy nhất tồn tại. Học viên nghĩ “ăn” trong tiếng Nhật là 「たべます」 chứ không phải 「たべる」. Khi bài 14 xuất hiện 「たべて」, họ phản ứng không khác gì một đứa trẻ chỉ học tiếng Anh ở thì hiện tại đơn và đột nhiên một ngày bị bảo rằng từ “do” trong tiếng Anh thực ra còn có dạng “did”, “done”, “doing” và “does”.
Tôi nhận định rằng Ebihara đã đẩy giải pháp tới mức cực đoan: dạy gộp tất cả các thể vào ngày đầu tiên. Điều này không cần thiết và cũng có thể phản tác dụng với những ai chỉ mới làm quen bảng chữ cái. Cái cần làm không phải là dạy hết, mà là minh bạch về hệ thống động từ ngay từ đầu.
Ba cách xử lí của tôi
Để hạn chế tối đa việc học viên gặp khó khăn, tôi đã thêm 3 bước sau vào quá trình dạy sơ cấp.
Bước 1: Nói thẳng bản chất hình thái học của động từ tiếng Nhật ngay buổi nhập môn
Học viên Việt Nam phần lớn đến với tiếng Nhật sau khi học tiếng Anh nhiều năm. Trong tiếng Anh, động từ có thể thay đổi ngay trong thân từ. Ví dụ tôi thường dùng nhất là do-did-done. Học viên người Việt khi nghe tới chia động từ sẽ liên tưởng tới mô hình động từ có thể tự thay đổi từ bên trong. Tiếng Nhật vận hành theo kiểu hoàn toàn khác: người ta thêm và bớt các chữ vào và ra khỏi gốc từ, tạo ra các dạng khác nhau tùy ý nghĩa cần truyền tải. Khi đã thiết lập điều này, học viên có tâm lí khác hẳn vì hiểu rằng các dạng khác nhau được tạo ra bằng cách lắp ráp, không phải bằng cách thay đổi chữ trong thân từ. Khi て形 xuất hiện ở bài 14, không có gì gây sốc cả. Đó chỉ là một dạng lắp ráp với nhiều chức năng hơn mà họ đã được báo trước rằng nó tồn tại.
Bước 2: Thể lịch sự trước, nhưng không che giấu thể thường
Tôi vẫn dạy thể lịch sự trước nhưng không né tránh thể thường. Khi giới thiệu ます, tôi giới thiệu ngay động từ tiếng Nhật có hai dạng là thể lịch sự và thể thường, khác nhau ở dạng động từ và một số yếu tố khác. Chúng ta học thể lịch sự trước vì lí do thực tế, thể thường sẽ học sau. Điều này nghe có vẻ đơn giản và nhỏ nhặt nhưng ảnh hưởng tâm lí rất lớn, vì học viên biết kiến thức họ đang có là một góc của bản đồ chứ chưa phải toàn bộ bản đồ về tiếng Nhật.
Bước 3: Tận dụng anime và drama exposure của học viên
Đây là phần tôi thấy việc giảng dạy bám sát theo giáo trình truyền thống lãng phí nhiều nhất. Một tỉ lệ rất cao học viên Việt Nam đến với tiếng Nhật vì đã xem anime hoặc drama. Họ chưa biết ngữ pháp nhưng họ đã từng nghe hàng nghìn câu thoại, trong đầu họ có những phrase được nghe đi nghe lại: 「わかった」「やめろ」「行こう」「食べたい」「待って」. Khi học viên trong lớp học 「わかります」, tôi sẽ hỏi: “Có ai từng nghe câu 「わかんない」 hoặc 「わからない」 chưa?”. Chắc chắn sẽ có vài người gật đầu, tôi liên hệ ngay: 「わかります」là thể lịch sự, 「わかりません」là phủ định lịch sự, 「わからない」là phủ định thể thường, 「わかんない」là cách rút gọn kiểu khẩu ngữ của「わからない」. Như vậy, học viên không chỉ học một dạng của động từ mà họ kích hoạt lại bốn kiểu câu đã nghe dễ đến hàng trăm lần trên phim, giờ chỉ việc gán cho chúng cấu trúc ngữ pháp. Cảm giác “à hóa ra đó là cái tôi đã nghe” tạo động lực học tập lớn hơn hẳn.
Tại sao 3 bước này tạo ra hiệu quả?
Vì chúng giải quyết đúng vấn đề thiếu thông tin về hệ thống động từ.
Bước 1 thiết lập mô hình đúng từ đầu: tiếng Nhật tạo các dạng động từ bằng cách thêm bớt chữ ở đuôi, không phải bằng cách thay đổi chữ bên trong thân từ. (Có người sẽ hỏi thế từ かきます thành かいて thì bạn giải thích sao? Câu trả lời là tuỳ học viên mà tôi sẽ giải thích cả về hiện tượng 音便 của thể て hoặc không, thường những người đặt câu hỏi sẽ muốn nghe.)
Bước 2 chống lại tâm lí bị giấu thông tin: học viên biết mình đang ở đâu trong bản đồ tổng thể.
Bước 3 tận dụng kho dữ liệu mà học viên đã có sẵn: tiếng Nhật trong anime và drama không còn là đối thủ của giáo trình mà trở thành tài liệu hỗ trợ.
Cơ sở khoa học: tâm lí học viên trưởng thành
Tôi không chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân mà có tham khảo một mảng lí thuyết giáo dục đã được phát triển từ cuối thập niên 1960: andragogy, lí thuyết về cách người trưởng thành học. Andragogy đối lập với pedagogy là phương pháp dạy trẻ em, điểm mấu chốt của lí thuyết này là: trở ngại lớn nhất trong giáo dục người lớn chính là việc áp dụng cách dạy trẻ em vào người trưởng thành.
Trong các nguyên tắc của andragogy, ba điểm đặc biệt liên quan đến vấn đề dạy ngôn ngữ:
Người trưởng thành cần biết tại sao. Họ không học tốt nếu chỉ được yêu cầu “cứ làm theo”. Họ muốn hiểu lí do, mối liên hệ và mục đích. Nếu giáo viên giấu hệ thống tổng thể và chỉ đưa từng mảnh nhỏ, người học sẽ hoặc bỏ cuộc, hoặc tự đặt câu hỏi và đoán sai.
Người trưởng thành mang theo kinh nghiệm sẵn có làm nền. Họ không phải tờ giấy trắng. Khi học một ngôn ngữ mới, họ sẽ tự động so sánh với tiếng mẹ đẻ và các ngôn ngữ đã biết. Đây là phản xạ tự nhiên không thể ngăn chặn. Giáo viên có thể né tránh nó hoặc tận dụng nó.
Người trưởng thành muốn tự định hướng. Họ không thích bị che giấu thông tin với lí do “sau này sẽ học”. Khi học viên hiểu mình đang ở đâu trong bản đồ tổng thể, họ tự điều chỉnh được kì vọng và nỗ lực của mình.
Trong nghiên cứu thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition – SLA), những nguyên tắc trên cũng được chứng thực qua nhiều thập kỉ nghiên cứu. Nói tóm lại, người trưởng thành có thể học ngoại ngữ hiệu quả hơn khi được giảng dạy có ý thức về cấu trúc.
Một case study: buổi nhập môn với học viên đã học trên 2 ngoại ngữ
Tôi đọc được cuốn sách trên sau khi kết thúc buổi nhập môn với học viên là người trưởng thành, từng học qua N5 nhưng không duy trì tiếp xúc, đã thành thạo tiếng Anh và tiếng Trung. Nội dung buổi học: hiragana, các điểm cần lưu ý về phát âm và 格助詞 (が, を, に, へ, で).
Có hai điều xảy ra song song.
- Điều thứ nhất: học viên nắm kiến thức rất nhanh. Có vài khoảnh khắc “wow” khi tôi giải thích vai trò của 格助詞. Họ nhận ra rằng tiếng Nhật không cần phụ thuộc trật tự từ vì các trợ từ đã đánh dấu rõ vai trò ngữ pháp của từng thành phần. Đối với người đã quen với tiếng Anh (dựa vào trật tự từ) và tiếng Trung (cũng phần lớn dựa vào trật tự từ), tiếng Nhật là một ví dụ thú vị về cách ngôn ngữ có thể được tổ chức khác đi.
- Điều thứ hai: dù nắm được ý tưởng, học viên vẫn có dấu hiệu bị quá tải thông tin. Không phải vì lượng kiến thức quá nhiều, kiến thức trong buổi học không nhiều hơn một bài trong giáo trình chuẩn. Tôi cho rằng học viên đang phải làm một việc tốn năng lượng nhận thức hơn: đối chiếu khái niệm mới với nhiều hệ thống tham chiếu đã có sẵn trong đầu.
Cụ thể, khi gặp 格助詞 lần đầu, họ có thể tự động đối chiếu với:
- Tiếng Việt: không có trợ từ chỉ vai trò ngữ pháp
- Tiếng Anh: trật tự từ trong câu khác
- Tiếng Trung: trật tự từ trong câu khác
- Kí ức về những bài học N5 trước đó: có thể tồn tại xung đột với thông tin tôi cung cấp
Bốn hệ thống tham chiếu trên được kích hoạt cùng lúc, học viên không bị động tiếp thu mà họ đang chủ động xây dựng schema mới và tích hợp với các schema cũ nên sẽ không tiếp thu theo cách của người mới học tiếng Nhật từ trang giấy trắng.
Kinh nghiệm rút ra: nên đưa cho học viên những điểm tham chiếu rõ ràng với các ngôn ngữ đã biết.
Kết luận
Tôi không cho rằng cách của Ebihara sai. Với học viên có nền tảng tư duy logic mạnh như dân học tự nhiên (phân tích rõ ở phần「理系学習者」 trong chương 16 của sách), việc dạy gộp các dạng động từ vào ngày đầu tiên có thể là tối ưu với học viên có nhu cầu sử dụng tiếng Nhật ngay lập tức trong môi trường công việc.
Tuy nhiên, với học viên muốn học chậm mà chắc, đặc biệt là người trẻ học vì sở thích, việc nhồi 6 hình thức và 6 công thức trong một buổi học có thể gây quá tải nhận thức. Họ có thể bỏ học giữa chừng, không vì giáo trình quá đơn giản mà vì cảm thấy không theo kịp.
Vấn đề 6 bài chấm hỏi của Minna không phải là do thứ tự dạy mà do giáo viên không cho học viên một bản đồ tổng thể trước khi đi vào chi tiết. Cách giải quyết không nhất thiết phải dạy hết như Ebihara đề xuất mà cần minh bạch về hệ thống ngay từ buổi đầu song song với việc dạy nội dung theo tốc độ phù hợp.
Mấy lời thẳng thắn dành cho học viên tiềm năng
Nếu bạn đã đọc tới đây và đang nghĩ về việc học tiếng Nhật cùng tôi, có vài điều tôi muốn nói thẳng trước khi bạn quyết định.
Tôi không phải entertainer. Tôi không có ý định làm cho mỗi buổi học trở thành một event vui vẻ. Mục đích chính của tôi là truyền đạt kiến thức chính xác và cung cấp cho bạn mô hình đúng về tiếng Nhật. Nếu một buổi học có không khí vui, rất tốt. Nếu không, cũng không phải vấn đề lớn.
Tôi chỉ giảng nhiều lí thuyết nếu thấy bạn thực sự cần biết. Khi tôi quyết định giải thích một cơ chế ngôn ngữ học hay so sánh ngôn ngữ, đó là vì tôi đánh giá rằng kiến thức đó sẽ giúp bạn học tốt hơn. Tôi không giảng lí thuyết để show off hay làm dày nội dung buổi học. Khi tôi bỏ qua một vài chi tiết, đó cũng là một quyết định có ý thức.
Tôi cần bạn chia sẻ thật về cách bạn tiếp thu. Trong lớp, nếu tôi hỏi bạn các câu hỏi để xác nhận bạn đã hiểu hay chưa, hãy tích cực trả lời. Đừng nói “hiểu rồi” khi vẫn còn lờ mờ. Đừng giả vờ theo kịp khi đang bị tụt lại. Tôi không có khả năng đọc suy nghĩ. Nếu bạn không phản hồi thật, tôi sẽ dạy theo giả định bạn đã hiểu, buổi học sau bạn sẽ thấy đuối. Trách nhiệm này một nửa nằm ở phía bạn.
Đừng kì vọng quá mức vào bất kì lớp học nào. Tôi là người rất siêng học thêm ngoại ngữ nên hiểu rõ một khoá học 10 buổi, mỗi buổi 1-2 giờ đồng hồ không thể biến bạn từ người chưa biết tiếng Nhật thành người nói được lưu loát. Không phương pháp nào, không giáo viên nào, không sách nào làm được điều đó. Học ngôn ngữ là việc dài hạn, đòi hỏi tính đều đặn nhiều hơn là cường độ. Nếu bạn đang tìm một viên thuốc thần để học nhanh, tôi không có.
Tôi có thể đảm bảo kiến thức tôi truyền đạt có nguồn kiểm chứng trong sách chuyên ngành. Đó là cam kết duy nhất tôi đưa ra, còn việc một buổi học có vui không, có buồn ngủ không, có cảm giác tiến bộ nhanh không, phụ thuộc rất nhiều yếu tố ngoài kiến thức: tâm trạng của bạn hôm đó, độ phù hợp giữa style học của bạn và style dạy của tôi, mức độ exposure của bạn ngoài lớp học, sức khỏe, áp lực công việc. Tôi chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng kiến thức.
Nếu bạn đọc tới đây và vẫn muốn học, có lẽ bạn và tôi sẽ làm việc được với nhau. Link đăng kí học ở bên dưới.
Tham khảo thêm một số trang web về tiếng Nhật
Đăng kí học tiếng Nhật: https://forms.gle/X44hZPKAoJUvUYua7
Behance của mình: https://www.behance.net/phanthuha62
Tổng hợp ngữ pháp tiếng Nhật: https://phanthuha.me/category/tieng-nhat/
Đọc thêm về Jujutsu Kaisen: https://phanthuha.me/category/jujutsu-kaisen/
Đọc thêm về Tam quốc: https://phanthuha.me/category/tam-quoc/
